Skip to main content

Vasili Sergeyevich Kulkov – Wikipedia tiếng Việt

Vassily Sergeyevich Kulkov (tiếng Nga: Василий Сергеевич Кульков; 11/6/1966-) là một cựu tuyển thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Liên Xô và Nga. Chơi ở các vị trí hậu vệ và tiền vệ. Kiện tướng thể thao từ năm 1989. Từ 2007-2008 là trợ lý huấn luyện viên đội FC Lokomotiv Moskva. Từ 2009 là huấn luyện viên đội trẻ cho FC Spartak Moskva.





Kulkov sinh ra tại Moskva và trưởng thành từ lò luyện tài năng trẻ của đội FC Dynamo Moskva.



Kulkov bắt đầu chơi ở giải bóng đá ngoại hạng Liên Xô từ năm 1989 trong màu áo của FC Spartak Moskva ở vị trí hậu vệ trái. Anh cùng đội này đoạt chức vô địch giải năm 1989 và á quân giải năm 1991. Năm 1991, Kulkov sang đầu quân cho SL Benfica (Bồ Đào Nha) cùng người đồng đội Spartak là Aleksandr Mostovoi. Năm 1993, anh cùng đội này đoạt Cúp Bồ Đào Nha. Năm 1994, Kulkov chuyển sang đá cho FC Porto trong một mùa bóng. Từ năm 1995, Kulkov trở về Nga thi đấu lần lượt cho nhiều câu lạc bộ.

Trận đấu trong màu áo đội tuyển quốc gia đầu tiên của Kulkov là ngày 26 tháng 4 năm 1989 trong trận Liên Xô- CHDC Đức trong vòng loại giải vô địch bóng đá thế giới 1990. Do chấn thương, Kulkov lỡ cơ hội tham gia vòng chung kết các Euro 1992 và 1996. Trước vòng chung kết giải vô địch bóng đá thế giới 1994, Kulkov cùng một số cầu thủ nữa ký vào thư đòi huấn luyện viên trưởng đội tuyển Pavel Sadyrin từ chức. Sadyrin không từ chức; và Kulkov quyết định rút khỏi đội tuyển. Tính chung, Kulkov đã thi đấu 21 trận cho đội tuyển Liên Xô và SNG, 21 trận cho đội tuyển Nga. Mặc dù trong đội tuyển, Kulkov được phân công đá ở vị trí hậu vệ trái hoặc tiền vệ phòng ngự, nhưng anh cũng đã ghi được 5 bàn thắng cho đội tuyển Nga.











Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Dulce et Decorum Est – Wikipedia tiếng Việt

Dulce et Decorum est – là bài thơ của nhà thơ Anh Quốc Wilfred Owen viết năm 1917 và được công bố năm 1921, sau khi nhà thơ đã hy sinh tại một trận đánh vào năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bài thơ có 28 dòng. Đầu tiên, đây là một bức thư riêng nhưng sau Wilfred Owen đã quyết định công bố đến đông đảo bạn đọc.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những người lính trận mạc băng qua bùn lầy, khói lửa của chiến tranh trở về phía sau… Mệt mỏi và bị hơi độc tấn công… Một người trong số họ bị chết vì trúng khí độc… Khổ cuối là những lời kêu gọi chống chiến tranh. Tác giả dùng câu danh ngôn của đại thi hào Horace thời La Mã cổ đại: Dulce et decorum est/ pro patri mori (Được chết vì tổ quốc/ sung sướng và ngọt ngào thay). Bài thơ được viết bằng một tình cảm chân thành và chính điều này đã làm cho nó trở thành một trong những bài thơ chống chiến tranh nổi tiếng nhất.


Dulce et Decorum Est

Bent double, like old beggars under sacks,
Knock-kneed, coughing like hags, we cursed through …

PETN – Wikipedia tiếng Việt

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PETN ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.
Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]



Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl axetat, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.
Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.
Các thông số kỹ thuật:


PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc…