Skip to main content

Jonas L.A. – Wikipedia tiếng Việt

JONAS là 1 series hài phát sóng chủ yếu trên Disney chanel. Bộ phim nói về ban nhạc gia đình gồm 3 anh em: Kevin Jonas, Joe Jonas và Nick Jonas.





Kevin Jonas: Kevin là anh cả trong gia đình. Tuy đã 20 tuổi nhưng Kevin rất trẻ con và ham ăn.

Joe Jonas: Joe là một chàng bảnh trai, hát chính trong nhóm và rất thích các cô gái xinh đẹp.

Nick Jonas: Mặc dù là em trai nhưng Nick tỏ ra "người lớn" hơn Kevin và Joe nhiều lần. Tính Nick thẳng băng, học giỏi và đôi khi hơi nóng.

Stella Malone (Chelsea Staub): Một cô gái tóc vàng xinh đẹp, thông minh học giỏi, mơ ước thành nhà thiết kế thời trang cho người nổi tiếng. Sau này cô là bạn gái của Joe Jonas.

Macy Misa (Nicole Anderson): Là cô gái dễ thương có mái tóc màu nâu đen. Cô là người hâm mộ Jonas điên cuồng và cho rằng mình là 1 fan bự của họ. Khi tới Los Angeles, cô đã kiềm chế được sự hâm mộ đó bằng cách đưa hết ý của mình vào trang web của ban nhạc Jonas. Sau này cô là mẫu người Nick Jonas yêu.

Tom Jonas (John Ducey): Bố của Jonas, rất yêu gia đình.

Sandy Jonas (Rebecca Creskoff): Mẹ Jonas, là một bà mẹ đảm đang, hay nhớ kỉ niệm gia đình.

Frankie Jonas: Em út nhà Jonas, nghịch ngợm và chơi trốn tìm rất giỏi.



JONAS được sản xuất bởi It's a Laugh Production và Mantis Production hợp tác với Disney Channel. JONAS là series của Disney đầu tiên, kể từ thời Phil of the Future, không quay live trước khán giả cũng không có tiếng cười ghi âm.

JONAS đặt bối cảnh tại New Jersey và quay tại Hollywood Center Studio.


Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]


Trước đây, series được gọi là "J.O.N.A.S", viết tắt của "Junior Operative Networking As Spies". Trong phim, ban nhạc đi biểu diễn là vỏ bọc trong khi làm điệp viên của chính phủ để cứu thế giới. Trong khi đó, họ vẫn phải cố gắng giấu mẹ và Frankie. Stella, không biết sự thật về anh em Jonas, hẹn hò từng người mà không cho những người khác biết, đồng thời tường thuật lại chi tiết cho mục báo của cô trên tạp chí teen. Chelsea nói, "Hầu như toàn bộ phim, chúng tôi nói dối lẫn nhau, và mọi việc diễn ra không như mong đợi, chúng tôi bị bắt gặp trong những tình huống lúng túng." Cô miêu tả tư tưởng chung là, "giống như The Monkees và một chút Mr. & Mrs. Smith. Sẽ có những cuỗi sự kiện hài hước và vẫn là một sitcom."

J.O.N.A.S. đã được quay vào năm 2007, nhưng cuộc đình công của hội nhà văn Mỹ năm 2007-2008 (2007–2008 Writers Guild of America strike) làm hoãn lại tiến trình. Thay vào đó, Disney Channel quay một chương trình thực tế nhỏ, Jonas Brothers: Living the Dream, đi theo Jonas Brothers trong tour diễn Look Me In The Eyes và khởi chiếu ngày 16 tháng 5 (tại Mỹ). Vài tuần sau, ngày 20 tháng 6 năm 2008, phim Camp Rock, trong đó họ đóng vai 1 ban nhạc hư cấu (không phải là anh em) "Connect Three", ra mắt. Jonas Brothers cũng phát hành Jonas Brothers: The 3D Concert Experience, một phim concer 3D của Disney Digital. "Sau những lần ra mắt ồ ạt này, nhóm Jonas Brothers trở nên quá nổi tiếng để có thể tưởng tượng họ thành bất cứ thứ gì ngoài phiên bản kịch tính hơn của chính họ" nhà sản xuất Michael Curtis giải thích. "Ý tưởng điệp viên rất lớn và rất tham vọng và nó bắt đầu cảm thấy không đúng lắm. Vì ban nhạc càng nổi tiếng, làm một show ghi lại nhiều hơn đời sống thực của họ và cố gắng biến nó thành 1 phiên bản thật hơn, vững chắc hơn về những gì họ có thể làm, đã trở nên thú vị và vui hơn để làm" Curtis nói trong 1 buổi họp báo. "Bây giờ thì nó là về chúng tôi là một ban nhạc và cân bằng cuộc sống bình thường" Nick Jonas nói với Access Hollywood. Tựa đề của series đổi từ J.O.N.A.S. thành JONAS, bỏ những chữ viết tắt nhưng vẫn giữ nguyên chữ in hoa.


Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]


Nhạc trong phim được viết và biểu diễn bởi Jonas Brothers dành riêng cho phim.






Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Dulce et Decorum Est – Wikipedia tiếng Việt

Dulce et Decorum est – là bài thơ của nhà thơ Anh Quốc Wilfred Owen viết năm 1917 và được công bố năm 1921, sau khi nhà thơ đã hy sinh tại một trận đánh vào năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bài thơ có 28 dòng. Đầu tiên, đây là một bức thư riêng nhưng sau Wilfred Owen đã quyết định công bố đến đông đảo bạn đọc.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những người lính trận mạc băng qua bùn lầy, khói lửa của chiến tranh trở về phía sau… Mệt mỏi và bị hơi độc tấn công… Một người trong số họ bị chết vì trúng khí độc… Khổ cuối là những lời kêu gọi chống chiến tranh. Tác giả dùng câu danh ngôn của đại thi hào Horace thời La Mã cổ đại: Dulce et decorum est/ pro patri mori (Được chết vì tổ quốc/ sung sướng và ngọt ngào thay). Bài thơ được viết bằng một tình cảm chân thành và chính điều này đã làm cho nó trở thành một trong những bài thơ chống chiến tranh nổi tiếng nhất.


Dulce et Decorum Est

Bent double, like old beggars under sacks,
Knock-kneed, coughing like hags, we cursed through …

PETN – Wikipedia tiếng Việt

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PETN ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.
Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]



Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl axetat, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.
Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.
Các thông số kỹ thuật:


PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc…