Skip to main content

Igor Mikhailovich Shalimov – Wikipedia tiếng Việt

Igor Mikhailovich Shalimov (tiếng Nga: Игорь Михайлович Шалимов, sinh ngày 2 tháng 2 năm 1969) là một cựu tuyển thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Liên Xô và Nga.





Shalimov sinh tại Moskva và tập luyện bóng đá tại lò đào tạo cầu thủ của FC Spartak Moskva.



Năm 1986, ông bắt đầu chơi ở giải bóng đá ngoại hạng Liên Xô trong màu áo của đội bóng này ở vị trí tiền vệ và cùng đội này giành ngôi vô địch giải năm 1989 và ngôi á quân năm 1991. Sau thành tích thi đấu tốt ở giải ngoại hạng Liên Xô và trong các trận đấu vòng loại của giải Euro 1992, Shalimov được U.S. Foggia của Ý mời sang thi đấu. Sau một mùa bóng ở đội này, Shalimov chuyển sang đá cho F.C. Internazionale Milano và chơi ở vị trí tiền vệ trung tâm. Shalimov đã đá 50 trận cho Milano và ghi được 11 bàn thắng và cùng đội này giành ngôi á quân giải Serie A mùa bóng 1992-1993. Ngoài ra, Shalimov còn thi đấu cho MSV Duisburg (Đức), AC Lugano (Thụy Sĩ), Udinese Calcio (Ý), Bologna F.C. 1909 (Ý), S.S.C. Napoli (Ý).

Ở cấp quốc gia, Shalimov đã thi đấu 24 trận trong màu áo của đội tuyển Liên Xô (sau đó là đội tuyển SNG) và ghi được 2 bàn. Ở vòng chung kết giải vô địch bóng đá thế giới 1990 tổ chức tại Ý, ông chỉ là cầu thủ dự bị. Nhưng sau đó, khi đội tuyển được trẻ hóa, ông là cầu thủ trụ cột giúp đội tuyển Liên Xô vượt qua Ý ở vòng loại giải Euro 1992 để giành một vé vào vòng chung kết. Ông cũng thi đấu 23 trận trong màu áo của đội tuyển Nga, từng đeo băng đội trưởng đội này và ghi được 3 bàn thắng. Ông cùng đội này tham gia vào chung kết giải Euro 1996.

Khi bị cấm thi đấu 2 năm vì xét nghiệm máu cho dấu hiệu dương tính với nandrolone, một chất bị cấm, Shalimov nghỉ thi đấu nhà nghề. Ông tuyên bố rằng chất nandrolone nằm trong thành phần của loại thuốc mà bệnh viện ở Moskva đã dùng để điều trị chứng xuất huyết bên trong cho ông.



Năm 2001, Shalimov làm huấn luyện viên cho Krasnoznamensk, năm 2003 làm huấn luyện viên cho đội FC Uralan (Elista). Từ năm 2008 đến 2011, Shalimov là huấn luyện viên đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Nga.




Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Dulce et Decorum Est – Wikipedia tiếng Việt

Dulce et Decorum est – là bài thơ của nhà thơ Anh Quốc Wilfred Owen viết năm 1917 và được công bố năm 1921, sau khi nhà thơ đã hy sinh tại một trận đánh vào năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bài thơ có 28 dòng. Đầu tiên, đây là một bức thư riêng nhưng sau Wilfred Owen đã quyết định công bố đến đông đảo bạn đọc.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những người lính trận mạc băng qua bùn lầy, khói lửa của chiến tranh trở về phía sau… Mệt mỏi và bị hơi độc tấn công… Một người trong số họ bị chết vì trúng khí độc… Khổ cuối là những lời kêu gọi chống chiến tranh. Tác giả dùng câu danh ngôn của đại thi hào Horace thời La Mã cổ đại: Dulce et decorum est/ pro patri mori (Được chết vì tổ quốc/ sung sướng và ngọt ngào thay). Bài thơ được viết bằng một tình cảm chân thành và chính điều này đã làm cho nó trở thành một trong những bài thơ chống chiến tranh nổi tiếng nhất.


Dulce et Decorum Est

Bent double, like old beggars under sacks,
Knock-kneed, coughing like hags, we cursed through …

PETN – Wikipedia tiếng Việt

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PETN ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.
Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]



Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl axetat, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.
Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.
Các thông số kỹ thuật:


PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc…