Skip to main content

Chi Dây gối – Wikipedia tiếng Việt

Chi Dây gối (danh pháp khoa học: Celastrus) là một chi của khoảng 30 loài cây bụi và dây leo. Các loài này phân bố rộng khắp trong khu vực Đông Á, miền Australasia, châu Phi và châu Mỹ.






Các loài này có lá đơn, hình trứng, mọc so le, thông thường dài khoảng 5–20 cm (2-8 inch). Hoa nhỏ, màu trắng, hồng hay hơi lục, mọc thành chùy hoa dài; quả là loại quả mọng màu đỏ, ba mảnh vỏ. Quả của chúng là thức ăn của một số loài chim ăn quả, nhờ cách đó hạt được phát tán theo phân chim. Tất cả các phần của cây đều có khả năng gây ngộ độc cho con người nếu ăn phải do có chứa các ancaloit như (−)-2α-(2′-pyrrolyl)-4α-methoxycacbonyl-1,3-oxazacyclohexan, 2α-(2′-pyrroly1)-4α-methoxycacbonyl-5β-[(2″-methyl)-hepty1]-1,3-oxazacyclohexan[2] hay 3-oxo-4-benzyl-3, 4-dihydro-1H-pyrrolo [2, 1-c] oxazin-6-methylal[3]. Tại Việt Nam có 8 loài.



  • Celastrus angulatus Maxim. - Khổ bì đằng, dây gối Trung Hoa

  • Celastrus australis - Dây gối Australia

  • Celastrus dispermus - Orange Boxwood

  • Celastrus flagellaris Rupr.: Nam xà đằng bao hoa nhọn

  • Celastrus gemmatus Loes.: Dây gối chồi, gối chồi, sương hồng đằng, dây gối Vân Nam, ca lan diệp.

  • Celastrus hindsii Benth.: Dây gối Ấn Độ, dây gối bắc, dây gối quả nâu, thanh giang đằng

  • Celastrus hypoleucus Oliver: Phấn bối nam xà đằng

  • Celastrus monospermus Roxb.: Dây gối một hạt, gối một hạt

  • Celastrus orbiculatus Thunb. - Dây gối tròn, gối tròn, dây gối phương đông, nam xà đằng

  • Celastrus paniculatus Willd. - Dây gối, săng máu, đăng du đằng

  • Celastrus punctatus Thunb.

  • Celastrus pyracanthus L. - Dây gối Nam Phi

  • Celastrus rosthornianus Loes.: Nam xà đằng cành ngắn

  • Celastrus scandens L. - Dây gối Mỹ

  • Celastrus stylosus Wall.

  • Celastrus vaniotii (H.Lév.) Rehder[4]



  1. ^ Celastrus L.”. Germplasm Resources Information Network. United States Department of Agriculture. Ngày 5 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2009. 

  2. ^ Wei-Ping Yin, Tian-Zeng Zhao, Ling-Jie Gao, Da-Peng Zou, Hong-Min Liu, Jian-Xun Kang, Two alkaloids from Chinese bittersweet Celastrus angulatus, Phytochemistry, quyển 52, số 8, tháng 12 năm 1999, tr. 1731-1734 doi:10.1016/S0031-9422(99)00216-2

  3. ^ Yuanqiang Guo, Xian Li, Jinghui Wang, Jing Xu, Ning Li, A new alkaloid from the fruits of Celastrus orbiculatus, Fitoterapia, quyển 76, số 2, tháng 3 năm 2005, tr. 273-275, doi:10.1016/j.fitote.2004.12.008

  4. ^ “Species Records of Celastrus”. GRIN. USDA. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2009. 








Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Dulce et Decorum Est – Wikipedia tiếng Việt

Dulce et Decorum est – là bài thơ của nhà thơ Anh Quốc Wilfred Owen viết năm 1917 và được công bố năm 1921, sau khi nhà thơ đã hy sinh tại một trận đánh vào năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bài thơ có 28 dòng. Đầu tiên, đây là một bức thư riêng nhưng sau Wilfred Owen đã quyết định công bố đến đông đảo bạn đọc.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những người lính trận mạc băng qua bùn lầy, khói lửa của chiến tranh trở về phía sau… Mệt mỏi và bị hơi độc tấn công… Một người trong số họ bị chết vì trúng khí độc… Khổ cuối là những lời kêu gọi chống chiến tranh. Tác giả dùng câu danh ngôn của đại thi hào Horace thời La Mã cổ đại: Dulce et decorum est/ pro patri mori (Được chết vì tổ quốc/ sung sướng và ngọt ngào thay). Bài thơ được viết bằng một tình cảm chân thành và chính điều này đã làm cho nó trở thành một trong những bài thơ chống chiến tranh nổi tiếng nhất.


Dulce et Decorum Est

Bent double, like old beggars under sacks,
Knock-kneed, coughing like hags, we cursed through …

PETN – Wikipedia tiếng Việt

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PETN ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.
Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]



Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl axetat, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.
Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.
Các thông số kỹ thuật:


PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc…