Skip to main content

Quảng Châu Loan – Wikipedia tiếng Việt

Quảng Châu Loan (tiếng Pháp: Kouang-Tchéou-Wan, chữ Hán: 廣州灣), hoặc Lãnh thổ Quảng Châu Loan (tiếng Pháp: Territoire de Kouang-Tchéou-Wan) là một vùng đất ở miền Nam Trung Hoa, ven bờ đông bán đảo Lôi Châu, thuộc tỉnh Quảng Đông. Khu vực này từ năm 1898 là nhượng địa[1][2][3] của Pháp ký với nhà Thanh với hạn kỳ 99 năm nhưng đến năm 1946 thì đã hoàn lại chính phủ Trung Hoa. Nay vùng đất này thuộc địa cấp thị Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông.





Về mặt hành chính Quảng Châu Loan trực thuộc thống sứ Bắc Kỳ nhưng hưởng quy chế riêng chứ không sáp nhập vào Bắc Kỳ. Thuộc địa này sơ khởi được gọi là Fort Bayard, có Ủy viên (Commissaire) cai quản. Kể từ năm 1900 Quảng Châu Loan là một trong 6 xứ trong Liên bang Đông Dương.

Năm 1946 sau Chiến tranh thế giới thứ hai Pháp trao trả Quảng Châu Loan lại cho chính phủ Trung Hoa Dân quốc theo hiệp ước ký kết ở Trùng Khánh ngày 28 Tháng Hai. Để bù lại việc Pháp trả các tô giới Quảng Châu Loan, Thượng Hải, Hán Khẩu, và Quảng Đông lại cho Trung Hoa, chính phủ của Tưởng Giới Thạch bằng lòng cho Quân đội Pháp vào Đông Dương[4], thay thế Quân đội Trung Hoa ở phía Bắc vĩ tuyến 16 để giải giới Quân đội Đế quốc Nhật Bản.


Danh sách các Tổng công sứ (Ủy viên) Pháp tại Quảng Châu Loan[5][sửa | sửa mã nguồn]


  1. Charles-Louis-Théobald Courrejolles: 1898 - 1900

  2. Gustave Alby: 1900 - 1902

  3. Théophile-Henri Bergès: 1902 - 1903

  4. Gustave Alby: 1903 - 1906

  5. Jean-Edme-Fernand Gautret: 1906 - 1908

  6. Henri-Victor Sestier: 1908 - 1910

  7. Paul-Edgard Dufrénil: 1910 - 1911

  8. Jean-Ernest Moulié: 1911 - 1912

  9. Pierre-Stéphane Salabelle: 1912

  10. Henri-Jean-Auguste Caillard: 1912 - 1915

  11. Marius-Albert Garnier: 1915 - 1919

  12. Jean-Félix Krautheimer: 1919 - 1922

  13. Paul-Marie-Alexis-Joseph Blanchard de la Brosse: 1922

  14. Jean-Félix Krautheimer: 1922 - 1923

  15. Paul-Michel-Achille Quesnel: 1923 - 1925

  16. Paul-Marie-Alexis-Joseph Blanchard de la Brosse: 1925 - 1927

  17. Louis-Félix-Marie-Édouard Rivet: 1927 - 1929

  18. Achille-Louis-Auguste Sylvestre: 1929 - 1932

  19. Pierre-Charles-Edmond Jabouille: 1932 - 1933

  20. Paul Delamarre: 1933 - 1934

  21. Maurice-Émile-Henri de Tastes: 1934 - 1936

  22. Camille-Fernand Chapoulart: 1936 - 1937

  23. Jacques-Henri-Paul Le Prevôt: 1937 - 1942

  24. Louis-Frédéric-Claire-Guillaume Marty: 1942

  25. Pierre-Marie-Jean Domec: 1942 - 1943

  26. Nhật Bản chiếm đóng: 1943 - 1945





  • Anslinger, H.J.; Tompkins, William F. (1953), The Traffic in Narcotics, Funk and Wagnalls 

  • Escarra, Jean (1929), Le régime des concessions étrangères en Chine, Académie de droit international 

  • Gale, Esson M. (1970), “International Relations: The Twentieth Century”, China, Ayer Publishing, tr. 200–221, ISBN 0-8369-1987-4 

  • A. Choveaux, "Situation économique du territoire de Kouang-Tchéou-Wan en 1923". Annales de Géographie, Volume 34, Nr. 187, pp. 74–77, 1925.

  • Handel, Michael (1990), Intelligence and Military Operations, United Kingdom: Routledge 

  • Li, Chuanyi; Ou, Jie (2001), “湛江维多尔天主教堂考察 (Research on the Victor Catholic Church of Zhanjiang)”, Study and preservation of Chinese modern architecture series (Tsinghua University) 1 

  • Luong, Hy Van (1992), Revolution in the Village: tradition and transformation in North Vietnam, 1925–1988, Hawaii: University of Hawaii Press 

  • Olson, James S. biên tập (1991), Historical Dictionary of European Imperialism, Westport, Connecticut: Greenwood Press 

  • Priestly, Herbert Ingram (1967), France Overseas: Study of Modern Imperialism, United Kingdom: Routledge 

  • Xu, Guangqiu (2001), War Wings: The United States and Chinese Military Aviation, 1929–1949, Greenwood Press, ISBN 0-313-32004-7 

  • Yu, Patrick Shuk-Siu (2000), A Seventh Child and the Law, Hong Kong: Hong Kong University Press 

  • lettres > par pays > Chine > Kouang-Tcheou-Wan, Le Papier Colonial: la France d'outre-mer et ses anciennes colonies, truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2007  Includes images of letters sent to and from the territory.

Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Dulce et Decorum Est – Wikipedia tiếng Việt

Dulce et Decorum est – là bài thơ của nhà thơ Anh Quốc Wilfred Owen viết năm 1917 và được công bố năm 1921, sau khi nhà thơ đã hy sinh tại một trận đánh vào năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bài thơ có 28 dòng. Đầu tiên, đây là một bức thư riêng nhưng sau Wilfred Owen đã quyết định công bố đến đông đảo bạn đọc.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những người lính trận mạc băng qua bùn lầy, khói lửa của chiến tranh trở về phía sau… Mệt mỏi và bị hơi độc tấn công… Một người trong số họ bị chết vì trúng khí độc… Khổ cuối là những lời kêu gọi chống chiến tranh. Tác giả dùng câu danh ngôn của đại thi hào Horace thời La Mã cổ đại: Dulce et decorum est/ pro patri mori (Được chết vì tổ quốc/ sung sướng và ngọt ngào thay). Bài thơ được viết bằng một tình cảm chân thành và chính điều này đã làm cho nó trở thành một trong những bài thơ chống chiến tranh nổi tiếng nhất.


Dulce et Decorum Est

Bent double, like old beggars under sacks,
Knock-kneed, coughing like hags, we cursed through …

PETN – Wikipedia tiếng Việt

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PETN ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.
Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]



Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl axetat, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.
Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.
Các thông số kỹ thuật:


PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc…