Skip to main content

Aleksandr Vladimirovich Mostovoi – Wikipedia tiếng Việt

Aleksandr Vladimirovich Mostovoi (tiếng Nga: Александр Владимирович Мостовой) là một cựu tiền vệ tấn công của đội tuyển bóng đá quốc gia Liên Xô và Nga.





Mostovoi là người thành phố Lomonosov, tỉnh Leningrad, sinh ngày 22 tháng 8 năm 1968. Lúc nhỏ, anh học bóng đá tại FC Presnya Moskva. Nhưng sau đó, anh tốt nghiệp một trường dạy nghề và có bằng kỹ thuật viên điện.



Sau khi qua một khóa học bóng đá dành riêng cho sinh viên đại học, Mostovoi đầu quân cho FC Spartak Moskva. Anh đã khoác áo Spartak 106 lần, ghi được 34 bàn thắng và cùng đội này đoạt cúp vô địch giải bóng đá ngoại hạng Liên Xô các năm 1987 và 1989.

Mostovoi bắt đầu được biết đến ở phạm vi quốc tế khi anh thi đấu tốt trong đội hình đội tuyển Liên Xô tại vòng loại giải Euro 1992. Sau vòng chung kết Euro 1992, Mostovoi đầu quân cho S.L. Benfica (Bồ Đào Nha). Rồi từ đó, anh lần lượt đá cho SM Caen (Pháp), RC Strasbourg (Pháp). Tại Strasbourg, Mostovoi đã chơi 65 trận và ghi được 16 bàn. Trong một cuộc thăm dò ý kiến, Mostovoi được bầu là cầu thủ thế kỷ của Strasbourg.

Năm 1996, Strasbourg nhượng Mostovoi cho Celta de Vigo (Tây Ban Nha) với giá 325 triệu pesetas và anh chơi cho câu lạc bộ này đến tận 2004, đá 259 trận và ghi được 66 bàn thắng. Mostovoi được các người hâm mộ Celta de Vigo mệnh danh là Sa hoàng Balaidos (Balaidos là tên sân vận động/sân nhà của Celta de Vigo). Mostovoi đã cùng câu lạc bộ này đoạt cúp vô địch UEFA Intertoto Cup năm 2000.

Cùng với đội tuyển Liên Xô và Nga, Mostovoi đã tham các giải vô địch bóng đá thế giới 1994 và 2002, các giải Euro 1996 và 2004, giải vô địch châu Âu U21 năm 1990 (năm này Liên Xô đoạt ngôi vô địch).



Mostovoi kết hôn lần thứ nhất với một phụ nữ Bồ Đào Nha, lần thứ hai với một phụ nữ Pháp. Anh có hai con với người vợ thứ hai.










Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Nhậm Gia Huyên – Wikipedia tiếng Việt

Selina Ren sinh ngày 31 tháng 10 năm 1981 tại thành phố Đài Bắc, Đài Loan, là một thành viên của nhóm nhạc nữ Đài Loan mang tên S.H.E.




Ngày 8 tháng 8 năm 2000, nhà sản xuất HIM (HIM International Records) tổ chức cuộc thi "Universal 2000 talent and Beauty Girl contest" để chọn ra những nữ ca sĩ mới có thể quảng bá cho thương hiệu của họ. Có hơn 1000 thí sinh đã đăng ký dự thi, và sau những đợt chọn lọc liên tiếp, chỉ còn lại 7 thí sinh tham gia vào phần thi cuối cùng mang tên "The Cruel Stage". Theo như đúng luật thi, trong số 7 người cuối cùng chỉ được phép chọn ra một người thắng cuộc duy nhất. Thế nhưng, ban giám khảo đã chọn cả ba người thắng cuộc là Selina, Hebe và Ella. Với Selina, cô đến với cuộc thi bằng một sự tình cờ khi là người thế chỗ em gái mình vì cô em chưa đủ tuổi dự thi. Selina đã chinh phục ban giám khảo khi trình bày bài hát của nữ ca sĩ nổi tiếng Lý Mân "Before I fall in love". Sau đó, cô đã vượt qua khá dễ dàng các phần thi tiếp theo.


Lính tập – Wikipedia tiếng Việt

Lính tập là các đơn vị quân đội bản xứ do người Pháp tổ chức thành lập nhằm phụ trợ cho quân chính quy Pháp trong việc đánh dẹp, bảo vệ an ninh thời Pháp thuộc sau khi chiếm được Nam Kỳ, rồi Bắc Kỳ, nằm trong Quân đoàn bộ binh Bắc Kỳ.




Thời Pháp thuộc lính khố đỏ và lính khố xanh gọi chung là lính tập.
Lính khố đỏ (tiếng Pháp: tirailleurs indochinois hoặc milicien à ceinture rouge) là một lực lượng vũ trang của chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương dùng người bản xứ làm quân đội chính quy trong việc đánh dẹp. Lính khố đỏ đúng ra có ba hạng:

Lính khố đỏ Nam Kỳ (tiếng Pháp: tirailleurs annamites, tirailleurs cochinchinois hay tirailleurs saigonnais),
Lính khố đỏ Bắc Kỳ (tirailleurs tonkinois) và
Lính khố đỏ Cao Miên (tirailleurs cambodgiens).Danh từ "lính khổ đỏ" xuất phát từ quân phục của nhóm này gồm quần áo chẽn, nón dẹp (sau đổi nón chóp), và giải thắt lưng màu đỏ buộc ở bụng, đầu giải buông thõng ở bẹn giống như cái khố nên người dân Việt mới gọi là "khố đỏ" tuy đún…