Skip to main content

Shohimardon – Wikipedia tiếng Việt

Shohimardon (còn gọi là Shahimardan hay Shakhimardan, tiếng Nga: Шахимардан) là một làng nhỏ thuộc tỉnh Farg'ona (Fergana) ở miền đông Uzbekistan. Làng này đáng chú ý ở chỗ nó là vùng lãnh thổ cô lập của Uzbekistan, hoàn toàn bị bao quanh là các đơn vị hành chính của Kyrgyzstan, trong thung lũng của dãy núi Pamiro-Alai. Theo truyền thuyết, khalip Ali được chôn cất tại Shohimardon. Nhà thơ người Uzbek là Hamza Hakimzade Niyazi (1899-1929) từng sống và làm việc tại đây cho tới khi bị sát hại năm 1929[1].





Shohimardon nằm trong thung lũng ở sườn phía bắc dãy núi Alai trên độ cao khoảng 1.540-1.570 m[2].

Nhiệt độ trung bình trong tháng 7 là 22 °C, tháng 1 là khoảng −3 °C[2]. Lượng giáng thủy trung bình năm khoảng 350 mm[2].

Về mặt lãnh thổ, cùng với làng nhỏ Erdan tạo thành một vùng lãnh thổ cô lập của Uzbekistan, bao quanh là các vùng đất thuộc tỉnh Batken của Kyrgyzstan, với dân số năm 2005 là trên 5.000 người, chủ yếu là người Uzbek[3]; khoảng cách tới lãnh thổ chính của Uzbekistan là khoảng 17 km, cách thành phố Farg'ona khoảng 52 km[2]. Nó là một trong ba, cùng với Sokh và Changara, vùng lãnh thổ cô lập của Uzbekistan, bị bao quanh là các vùng đất của Kyrgyzstan.



Trong thời kỳ thuộc Liên Xô, điểm dân cư này có tên gọi Khamzaabad (Хамзаабад).

Trong làng này có một khu nghỉ dưỡng với các cơ sở du lịch và nhà nghỉ; trong vùng ngoại vi là trại cho những người leo núi có tên gọi Dugoba. Ở đây cũng có một mỏ đá hoa.

Năm 1998, làng này phải hứng chịu một vụ lở bùn đá, tàn phá nhà cửa và làm chết người.

Năm 1999, các toán vũ trang của Phong trào Hồi giáo Uzbekistan đã có ý định xâm nhập từ lãnh thổ Tajikistan qua lãnh thổ Kyrgyzstan vào thung lũng Fergana thuộc Uzbekistan, nhưng đã bị lực lượng đặc nhiệm Kyrgyzstan ngăn chặn. Sau sự kiện này, chính quyền Uzbekistan đã cho rải mìn các đoạn miền núi của biên giới, trong đó có cả vùng xung quanh Shohimardon, và hạn chế việc ra vào các vùng cô lập. Từ phía Kyrgyzstan, người ta áp dụng giấy phép ra vào vùng lãnh thổ cô lập này chỉ một lượt đối với các công dân của tỉnh Farg'ona và chế độ visa đối với các công dân khác của Uzbekistan.

Mùa thu năm 2004 các nghị sĩ quốc hội Kyrgyzstan đề nghị chính quyền nước này ra yêu sách đối với Uzbekistan về vấn đề lãnh thổ vùng cô lập này[4]

Năm 2004 người ta cũng bắt đầu tháo dỡ mìn đã đặt xung quanh vùng lãnh thổ cô lập này[5], được hoàn thành và kết thúc năm 2005[6].

Mùa xuân năm 2007, chính quyền Uzbekistan và Kyrgyzstan đã thông qua thỏa thuận, cho phép công dân cả hai quốc gia có thể tới tạm trú tại vùng lãnh thổ cô lập này trong vòng 2 tháng mà khong cần visa.




  • Lăng mộ (theo truyền thuyết địa phương) của Ali ibn Abu Talib.

  • Hồ Kurbankul, nước của nó được người dân tại đây coi là có sự linh thiêng.




Tọa độ: 39°59′B 71°48′Đ / 39,983°B 71,8°Đ / 39.983; 71.800








Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Dulce et Decorum Est – Wikipedia tiếng Việt

Dulce et Decorum est – là bài thơ của nhà thơ Anh Quốc Wilfred Owen viết năm 1917 và được công bố năm 1921, sau khi nhà thơ đã hy sinh tại một trận đánh vào năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bài thơ có 28 dòng. Đầu tiên, đây là một bức thư riêng nhưng sau Wilfred Owen đã quyết định công bố đến đông đảo bạn đọc.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những người lính trận mạc băng qua bùn lầy, khói lửa của chiến tranh trở về phía sau… Mệt mỏi và bị hơi độc tấn công… Một người trong số họ bị chết vì trúng khí độc… Khổ cuối là những lời kêu gọi chống chiến tranh. Tác giả dùng câu danh ngôn của đại thi hào Horace thời La Mã cổ đại: Dulce et decorum est/ pro patri mori (Được chết vì tổ quốc/ sung sướng và ngọt ngào thay). Bài thơ được viết bằng một tình cảm chân thành và chính điều này đã làm cho nó trở thành một trong những bài thơ chống chiến tranh nổi tiếng nhất.


Dulce et Decorum Est

Bent double, like old beggars under sacks,
Knock-kneed, coughing like hags, we cursed through …

PETN – Wikipedia tiếng Việt

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PETN ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.
Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]



Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl axetat, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.
Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.
Các thông số kỹ thuật:


PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc…