Skip to main content

Past, Present and Future, Book I – Wikipedia tiếng Việt

HIStory: Past, Present and Future, Book I (thường được viết tắt là HIStory) là album phòng thu thứ chín của nghệ sĩ thu âm người Mỹ Michael Jackson, phát hành ngày 16 tháng 6 năm 1995 bởi Epic Records. Đây là album thứ năm của Jackson được phát hành thông qua Epic, và là sản phẩm âm nhạc đầu tiên được phát hành bởi thương hiệu riêng của ông MJJ Productions. HIStory gồm hai đĩa: Đĩa đầu tiên (HIStory Begins) là một tuyển tập những bản hit của Jackson (giai đoạn 1979-1991), trong khi đĩa thứ hai (HIStory Continues) bao gồm những bài hát mới, được viết lời và sản xuất bởi Jackson và những cộng sự. Được thực hiện vào khoảng thời gian cuối năm 1994 - đầu năm 1995 (ngoại trừ "Come Together" đã được thu âm từ năm 1988), 15 bài hát mới trong album chủ yếu đề cập đến những cáo buộc từ giới truyền thông liên quan đến Jackson, đặc biệt là những tờ báo lá cải. Những chủ đề khác được đề cập trong những bài hát của album bao gồm nhận thức về môi trường, sự cô lập, tham lam, và bất công.

Được phát hành như là album đầu tiên của Jackson kể từ sau vụ kiện lạm dụng tình dục trẻ em của ông năm 1993, HIStory đã vấp phải một số tranh cãi, bao gồm cáo buộc sử dụng lời bài hát chống Do Thái trong "They Don't Care About Us", dẫn đến việc ông phải sửa lời bài hát sau này. Một bài hát khác trong album, "You Are Not Alone" - được sáng tác bởi R. Kelly, đã phải nhận phán quyết đạo nhạc và bị cấm phát sóng trên các đài phát thanh của Bỉ sau đó. Về mặt thương mại, nó ra mắt ở vị trí số một tại nhiều quốc gia như Úc, Canada, Pháp, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, và lọt vào top 5 ở hầu hết những thị trường nó xuất hiện. Album nhận được những đánh giá đa phần là tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc và nhận được năm đề cử giải Grammy, chiến thắng một giải cho Video hình thái ngắn xuất sắc nhất với "Scream".

Sáu đĩa đơn thương mại và hai đĩa đơn quảng bá đã được phát hành từ HIStory: "Scream/Childhood", "You Are Not Alone", "Earth Song", "This Time Around", "They Don't Care About Us" và "Stranger in Moscow". "This Time Around" chỉ được phát hành trên sóng phát thanh, và "Earth Song", "They Don't Care About Us" và "Stranger in Moscow" tuy không thành công tại Hoa Kỳ, nhưng lại rất thành công trên thị trường quốc tế, đều đạt vị trí top 10 ở nhiều quốc gia. Những video của các bài hát trong album cũng tạo nên những ảnh hưởng nhất định. Đĩa tuyển tập hit đã được tái phát hành như là một đĩa tách biệt vào ngày 13 tháng 11 năm 2001, dưới tiêu đề Greatest Hits: HIStory, Volume I và đã bán được bốn triệu bản trên toàn thế giới tính đến năm 2010.[1] Đĩa thứ hai cũng được phát hành riêng biệt ở một số nước châu Âu vào năm 2011.





Bắt đầu từ cuối thập niên 1980, mối quan hệ giữa Jackson và phương tiện truyền thông đã rất khó khăn. Trong năm 1986, những tờ báo lá cải đã tung ra một câu chuyện về việc Jackson ngủ trong một buồng oxy hyperbaric và đề nghị mua bộ xương của "người voi" Joseph Merrick, tuy nhiên Jackson đã phủ nhận hai tin đồn trên.[2] Những câu chuyện ấy dần dần trở nên xấu đi và Jackson còn bị gán thêm biệt danh "Wacko Jacko" khiến Jackson bị khinh miệt. Sau đó, ông tạm thời ít tiếp xúc với giới báo chí, và từ đó, các phương tiện truyền thông bắt đầu thêu dệt nên những câu chuyện riêng của họ về đời tư của ông.[3] Năm 1989, Jackson phát hành đĩa đơn và video ca nhạc cho "Leave Me Alone", một bài hát nói lên nhận thức của bản thân Jackson dưới bàn tay của báo chí, nhằm chỉ trích sự can thiệp vào đời tư của ông quá mức của các phương tiện truyền thông.[4]

Trong năm 1993, mối quan hệ giữa Jackson và báo chí trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết khi ông bị cáo buộc tội lạm dụng tình dục trẻ em. Mặc dù ông không bị kết tội, nhưng Jackson đã chịu sự giám sát từ giới truyền thông trong lúc quá trình điều tra vụ án đang diễn ra. Họ đã đặt những tiêu đề giật gân để thu hút độc giả và người xem, mặc dù những nội dung chính của nó lại không liên quan hoặc ít hỗ trợ cho tiêu đề. Điều này đã gây cú sốc lớn về mặt tinh thần cho Jackson.[5] Từ đó, Jackson bắt đầu sử dụng nhiều loại thuốc giảm đau, Valium, Xanax và Ativan để đối phó với những căng thẳng xung quanh những lời cáo buộc.[6] Một vài tháng sau khi những cáo buộc này trở thành tin tức, Jackson đã nhịn ăn. Một thời gian sau, sức khỏe của Jackson đã xấu đi đến mức ông phải hủy bỏ phần còn lại của chuyến lưu diễn đang thực hiện và thực hiện quá trình phục hồi chức năng.[7][8] Jackson đã đặt toàn bộ tầng thứ tư của một phòng khám và được đưa vào người Valium IV để cai thuốc giảm đau. Năm 1993, tờ The Daily Mirror đã tổ chức một cuộc thi "Spot the Jacko", treo thưởng cho những độc giả một chuyến đi đến Disney World nếu họ có thể dự đoán một cách chính xác nơi Jackson sẽ xuất hiện tiếp theo.[7] Cùng năm đó, báo News of the World đã cáo buộc Jackson là một kẻ chạy trốn; những tờ báo lá cải này thậm chí còn thêu dệt nên câu chuyện về việc Jackson đã đến Châu Âu để phẫu thuật thẩm mỹ khiến "ông ta trông không thể nhận ra khi trở về".[7] Đầu tháng 11 năm 1993, người chủ trì chương trình truyền hình Geraldo Rivera đã thiết lập một phiên tòa xét xử giả với quan tòa là những thành viên khán giả, mặc dù Jackson không được chỉ đích danh là một tội phạm.[9]




HIStory được thu âm từ tháng 9 năm 1994 đến tháng 3 năm 1995.[10] Jackson là đồng tác giả và sản xuất cho đa số những bài hát từ album. Bên cạnh Jackson, nhiều cộng tác viên khác nhau cũng tham gia quá trình thực hiện cho album, bao gồm nhiều nhà viết lời như Jimmy Jam & Terry Lewis, Dallas Austin, The Notorious B.I.G., Bruce Swedien, R. Kelly và René Moore, bên cạnh một số nhà sản xuất như David Foster và Bill Bottrell.[10] Đây là album phòng thu đầu tiên của Jackson kể từ Dangerous (1991), và là sản phẩm chính thức đầu tiên của ông kể từ khi bị cáo buộc lạm dụng trẻ em tình dục vào năm 1994. HIStory được phát hành như là một album đĩa đôi; đĩa đầu tiên (HIStory Begins) bao gồm những bài hát nổi tiếng nhất của Jackson trích từ bốn album phòng thu, Off the Wall (1979), Thriller (1982), Bad (1987) và Dangerous (1991). Về mặt âm nhạc, album là sự kết hợp giữa nhiều thể loại như R&B, pop, rock, dance, urban, new jack swing, funk, và hip-hop. Nó chính thức được phát hành vào ngày 16 tháng 6 năm 1995 bởi Epic Records trực thuộc Sony Music.



Tương tự như những album trước của Jackson như ThrillerBad, HIStory bao gồm nội dung lời bài hát đề cập đến việc đối phó với chứng hoang tưởng, trong đó đa số những bài hát mới được viết lời bởi Jackson. Một số bài hát trong album liên quan đến các cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ em nhằm chống lại Jackson vào năm 1993[11] và sự ngược đãi nhận thức của giới truyền thông đối với ông, chủ yếu là các tờ báo lá cải.[12] Vì vậy, album đã được mô tả như là của album "cá nhân" nhất của Jackson.[13] Thể loại âm nhạc của album pha lẫn giữa R&B, pop, hard rock và ballad.[11][14] Lời bài hát liên quan đến sự cô lập, tham lam, mối quan tâm về môi trường, bất công. "Scream" là một bản song ca với em gái Janet Jackson, các nhà phê bình đương đại lưu ý rằng rất khó để phân biệt tiếng nói của họ. "Scream" lời bài hát là về sự bất công.[13]

Lời bài hát của bản R&B ballad "You Are Not Alone", viết bởi R. Kelly, liên quan đến sự cô lập.[13] Hai nhạc sĩ người Bỉ là anh em Eddy và Danny Van Passel đã tuyên bố rằng bài hát có nhiều nét tương đồng với những giai điệu mà họ viết năm 1993; Trong tháng 9 năm 2007, một thẩm phán Bỉ đã phán quyết bài hát đã ăn cắp ý tưởng từ anh em Van Passel, và sau đó nó đã bị cấm trên sóng phát thanh tại Bỉ.[15][16] "D.S." là một bản hard rock, mà lời bài hát đã được giải thích bởi các nhà phê bình âm nhạc như là một cuộc đả kích vào kẻ nhiệt tình đứng sau, tố cáo trong phiên tòa xét xử lạm dụng tình dục trẻ em của Jackson, Thomas Sneddon.[11][14] Nhiều nhà phê bình đánh giá bài hát lưu ý rằng "người đàn ông lạnh" trong lời bài hát là Sneddon; khi tên "Dom S. Sheldon" từ phần điệp khúc, nó nghe giống như "Thomas Sneddon".[17][18]

"Money" được hiểu là nhắm đến Evan Chandler, cha của cậu bé đã cáo buộc Jackson lạm dụng tình dục trẻ em.[11] Lời bài hát "Childhood" là những trải nghiệm về tuổi thơ của Jackson.[19] Tương tự như "Scream", nội dung của "They Don't Care About Us" liên quan đến sự bất công, cũng như phân biệt chủng tộc. Trong "This Time Around", Jackson khẳng định mình là người bị "vu cáo".[11] Bài hát có sự góp giọng của The Notorious B.I.G. (Biggie Smalls) hai năm trước khi ông qua đời vào năm 1997. Biggie sau đó còn xuất hiện trong một bài hát của Jackson, "Unbreakable" trích từ album phát hành năm 2001 của ông, Invincible; khiến anh trở thành rapper duy nhất xuất hiện trên nhiều album của Jackson.[20] "Earth Song" đã được mô tả như là một bản "blues-opera chậm",[13] và ca từ của nó liên quan đến vấn đề môi trường. Trong HIStory, Jackson đã hát lại hai nhạc phẩm "Smile" của Charlie Chaplin và "Come Together" của The Beatles.[13] "Stranger in Moscow" là một bản pop ballad được xen kẽ với những âm thanh của mưa.[11] Jackson đã mô tả lời bài hát như là "một mùa thu đi qua nhanh chóng và đột ngột".[13] "Tabloid Junkie" là một bài hát hard funk[21] với âm thanh của những lời trích từ các phương tiện truyền thông và báo lá cải.[13][14] Bài hát cùng tên với album, "HIStory" chứa nhiều đoạn âm, bao gồm cả bài phát biểu "Tôi có một giấc mơ" của Martin Luther King Jr.[22] "HIStory" đã không được phát hành như là một đĩa đơn từ HIStory, nhưng bản remix của nó được phát hành làm đĩa đơn trích từ Blood on the Dance Floor: HIStory in the Mix (1997).

Với lời giới thiệu trong "Little Susie", Jackson đã sử dụng những yếu tố của Kinh thánh. Những cảm hứng đằng sau bài hát nhiều khả năng đến từ một nghệ sĩ được gọi là Gottfried Helnwein. Ông ngưỡng mộ tài năng của nghệ sĩ và ông đã mua một số bức tranh của Helnwein. Một trong số đó, bức "Beautiful Victim", đã được làm cảm hứng cho bài hát. Helnwein được coi là khá khiêu khích khi anh vẽ về con người cũng như miêu tả trẻ em bị thương. Helnwein sau đó đã vẽ một bức chân dung của Jackson.[23] Có một sự tương đồng giữa bức tranh "Beautiful Victim" và các bức hình nghệ thuật miêu tả bài hát trong HIStory.[23]




Tranh cãi về lời bài hát They Don't Care About Us[sửa | sửa mã nguồn]


"They Don't Care About Us", đĩa đơn thứ tư trích từ đĩa HIStory Continues của album sau khi phát hành đã gây nhiều tranh cãi về phần lời bài hát có tính chất bài trừ Do Thái. Lần đầu được đề cập công khai bởi Thời báo New York vào ngày 15 tháng 6 năm 1995, một ngày trước khi album xuất xưởng, câu hát: "Jue me, sue me" và "kick me, kike me" (Kike trong tiếng Anh có nghĩa là "tên Do Thái" với ý khinh miệt) được cho là mang ý "miệt thị".[24] Michael sau đó đã trả lời trực tiếp với giới truyền thông, trong đó nêu lên rằng:




Khi được hỏi thêm về lời bài hát, Jackson phủ nhận rằng "They Don't Care About Us" là một bài hát phản Do Thái, ông cho biết ​​"Đây không phải là bài hát phản Do Thái bởi vì tôi không phải là người phân biệt chủng tộc...Tôi không bao giờ có thể trở thành một kẻ phân biệt chủng tộc. Tôi yêu tất cả các chủng tộc."[24] Cùng ngày, Jackson nhận được sự hậu thuẫn từ người quản lý cũng như hãng thu âm của mình, người đã mô tả lời bài hát rất "sáng suốt", rằng họ phải đối mặt với những tiêu cực này và sẽ giải quyết sớm.[24] Ngày hôm sau, David A. Lehrer và Rabbi Marvin Hier, các nhà lãnh đạo của hai tổ chức người Do Thái, nói rằng nỗ lực của Jackson khi thực hiện một bài hát đề cập đến sự phân biệt đối xử đã phản tác dụng. Họ bày tỏ quan điểm rằng lời bài hát được sử dụng là không phù hợp với khán giả trẻ bởi vì họ có thể không hiểu hết thông điệp của bài hát và rõ ràng bài hát đã gây phản cảm đối với một số người nghe. Họ thừa nhận rằng ý tưởng của Jackson xuất phát từ mong muốn tốt đep và đề nghị ông viết một vài lời giải thích trong album.[25]

Vào ngày 17 tháng 6, Jackson đã đưa ra thông cáo xin lỗi công khai cho bất cứ ai bị xúc phạm bởi sự lựa chọn từ ngữ thiếu cẩn thận và hứa rằng các phiên bản sau của album sẽ gồm lời xin lỗi, Jackson kết luận rằng: "Tôi chỉ muốn tất cả các bạn biết những hành động mạnh mẽ của tôi đối với hòa bình và tình yêu, và tôi xin lỗi bất cứ ai bị tổn thương vì chuyện này".[26] Ngày hôm sau, trong bài đánh giá album HIStory, Jon Pareles của Thời báo New York đã cáo buộc, "Trong "They Don't Care About Us", ông cho rằng Jackson đã lừa dối để lấp liếm cho lời ca đề cao tình huynh đệ với sự bùng nổ những từ ngữ chống Do Thái: 'Jew me, sue me, everybody do me/ Kick me, kike me, don't you black or white me'" (Khinh tôi, kiện tôi, mọi người đều hiếp đáp tôi/Đá tôi, khinh tôi, đừng cố gắng bôi đen hay tô trắng tôi).[27]

Vào ngày 23 tháng 6, Jackson quyết định, mặc dù sẽ phát sinh các chi phí, ông sẽ trở lại phòng thu và thay đổi các từ ngữ vi phạm trong các phiên bản sau của album; "Jew me" và "Kike me" sẽ được thay thế bằng "do me" và "strike me".[28] Ông cũng nhắc lại rằng ông chấp nhận sự khó chịu của một số phần tử.[28][29] Spike Lee, người sẽ trực tiếp đạo diễn cho video ca nhạc cho "They Don't Care About Us", nói rằng ông cảm thấy có một quy luật 2 mặt trong ngành công nghiệp âm nhạc, bình luận rằng việc sử dụng các từ như "nigga" trong âm nhạc, không có gì đáng tranh cãi. Ngoài ra, rapper Notorious BIG, sử dụng từ nigga trong một bài hát khác của album HIStory - "This Time Around", nhưng nó không bị mổ xẻ bởi giới truyền thông. Jackson cũng sử dụng từ "shit" trong bài hát đó cũng như từ "ass" trong "D.S.", nhưng nó không gây nhiều sự chú ý so với những lời cáo buộc chống Do Thái bị cáo buộc trong "They Don't Care About Us" cũng như việc sử dụng các từ "fuck" trong "Scream".


Video ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn]


Những video ca nhạc trong kỷ nguyên HIStory đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau. Như "They Don't Care About Us" đã giúp mang lại những nhận thức về đói nghèo tại Brazil cũng như thu hút sự chú ý đến nơi đây của thế giới. Video được đạo diễn bởi Spike Lee, Jackson nói rằng Lee đã được chọn để chỉ đạo cho video vì bài hát "có một khía cạnh, là Spike Lee đã tiếp cận tôi. Đó là một bài hát về nhận thức cộng đồng, có cảm giác giống như một hình thức biểu tình...và tôi nghĩ anh ấy đã làm nên video này rất hoàn hảo".[31] Jackson cũng đã hợp tác với 200 thành viên của các nhóm văn hóa Olodum, chơi dàn trống trong đoạn video.[32] Sự quan tâm của phương tiện truyền thông xung quanh việc video ca nhạc này đã giới thiệu văn hóa Olodum đến 140 quốc gia trên thế giới. Nó mang lại cho họ danh tiếng trên toàn thế giới và tăng uy tín của họ tại Brazil.[33] Lucia Nagib, của The New Brazilian Cinema, nói về video ca nhạc:




Năm 2009, tạp chí Billboard mô tả nơi đây "hiện tại đã là một mô hình xã hội phát triển" và nói rằng tầm ảnh hưởng của Jackson đã góp phần cải thiện tình hình nơi đây..[35] Lần đầu tiên trong sự nghiệp của mình, Jackson đã thực hiện một video ca nhạc thứ hai cho một bài hát duy nhất.[36] Phiên bản thứ hai này được quay trong một nhà tù với các tù nhân; trong video, Jackson đã bị còng tay và có cảnh quay đời thực về các vấn đề: cảnh sát tấn công người Mỹ gốc Phi, các KKK, sự diệt chủng, và vi phạm nhân quyền khác.[36] Video ca nhạc cho "Earth Song" đã nhận được những lời khen ngợi cho việc phản ánh trực diện những vấn đề đáng báo động của môi trường. Năm 1995, video nhận được giải thưởng Genesis cho Giải thưởng âm nhạc Doris Day, trao hàng năm cho những nhận thức về động vật.[37] Năm 2008, một nhà văn thuộc Sở Giao dịch Nigeria đã lưu ý rằng, "Earth Song" đã thu hút sự chú ý của toàn thế giới vào sự suy thoái và diệt vọng của trái đất thông qua "những hoàn cảnh số phận của những con người trong video".

Hai video ca nhạc khác từ HIStory cũng đã tạo nên những ảnh hưởng nhất định. Video "Stranger In Moscow" của Jackson đã xuất hiện trong chiến dịch quảng cáo cho Giải Cricket quốc tế năm 2004, trong đó bao gồm "một loạt các hình ảnh quảng cáo ngoài trời thông minh và hợp lý".[38] Quảng cáo này lấy cảm hứng từ video "Stranger In Moscow" nơi "những cô gái trẻ cố gắng chạy nhanh khỏi cơn mưa, trong khi đứa trẻ chơi cricket".[38] "Scream" cũng mang đến những ảnh hưởng sáng tạo nghệ thuật trong các video ca nhạc khác như "No Scrubs" của TLC.[39] Những ảnh hưởng này cũng đã xuất hiện trong phiên bản năm 2008 của "Shawty Get Loose" của Lil Mama và Chris Brown.[40] Phản ứng lại những so sánh với Scream, Mama giải thích, "Tôi cảm thấy vinh dự, vì đó là một trong những mục tiêu ban đầu của chúng tôi, và tôi cảm thấy rằng nó đã được thực hiện tốt", cô nói thêm rằng màn thi đua giữa cô và Brown là sự trùng hợp duy nhất với vai diễn của Jackson.[40]



Sony Music đã chi 30 triệu đô để quảng bá cho album.[41] Trước khi phát hành album, các tờ báo âm nhạc đã dự đoán album sẽ bán như thế nào. Một nhà phân tích cho SoundScan đã bày tỏ ý kiến rằng báo chí đã mất liên lạc với công chúng khi họ đã đến Jackson, công chúng thích anh ấy, trong khi báo chí thì ngược lại. Ông tin rằng "người nói không" trong các phương tiện truyền thông sẽ được sự ngạc nhiên với việc tiếp nhận thương mại cho chiến dịch quảng bá của HIStory.[42] "Smile", "This Time Around" và "D.S." đã được phát hành như là đĩa đơn quảng bá vào năm 1995 và tháng 12 năm 1997. Do thiếu phát sóng trên radio, "Smile" và "D.S." đã không xuất hiện trên bất kỳ bảng xếp hạng âm nhạc nào trên toàn thế giới. "This Time Around", được phát hành như là đĩa đơn trên sóng phát hành tại Hoa Kỳ trong tháng 12 năm 1995. Bài hát đã đạt vị trí số 23 trên bảng xếp hạng Billboard Hot R&B Singles và 18 trên Hot Dance Music/Club Play.

Để quảng cáo cho album, Jackson bắt tay thực hiện chuyến lưu diễn thế giới thành công về mặt thương mại, mang tên HIStory World Tour. Đây là chuyến lưu diễn thứ ba và cũng là cuối cùng trong sự nghiệp của Jackson, dưới tư cách nghệ sĩ hát đơn. HIStory World Tour, bắt đầu tại Prague, Cộng hòa Séc vào ngày 7 tháng 9 năm 1996, thu hút hơn 4,5 triệu người hâm mộ từ 58 thành phố ở 35 quốc gia trên khắp thế giới. Trung bình mỗi chuyến lưu diễn thu hút 54.878 người và kéo dài 82 ngày. Jackson đã không thực hiện bất kỳ buổi hòa nhạc nào tại Hoa Kỳ, ngoại trừ hai buổi hòa nhạc vào tháng 1 năm 1997 tại Hawaii. Chi phí chỗ ngồi VIP, trung bình tốn khoảng 200 đô mỗi người. Mỗi buổi hòa nhạc ước tính kéo dài hai giờ và mười phút. HIStory World Tour kết thúc tại Durban, Nam Phi vào ngày 15 tháng 10 năm 1997.


Tiếp nhận và doanh số[sửa | sửa mã nguồn]


Album nhận được những đánh giá trái chiều từ giới phê bình, nhưng đa số là khen ngợi. Về mặt thương mại, HIStory ra mắt tại vị trí số một trên các bảng xếp hạng Billboard 200 và Top R&B/Hip-Hop Albums với hơn 391.000 bản được tiêu thụ trong tuần đầu.[43] Album được chứng nhận bảy đĩa Bạch kim từ Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA) vào ngày 22 tháng 10 năm 1999, công nhận 3,5 triệu album được tiêu thụ ở Hoa Kỳ kể từ khi phát hành. Theo RIAA, album đa đĩa được tính một lần cho mỗi đĩa trong album, do đó HIStory được tính riêng biệt dưới mục đích chứng nhận, có nghĩa là album đạt được đĩa bạch kim tại Hoa Kỳ sau khi 500.000 bản đã được tiêu thụ, không phải là một triệu. Ở châu Âu, Liên đoàn công nghiệp ghi âm đã chứng nhận 6 lần đĩa bạch kim, công nhận 6 triệu được tiêu thụ trong lục địa, bao gồm 1,5 triệu bản ở Đức và 1,2 triệu bản được tiêu thụ ở Vương quốc Anh.[44] Đến năm 2010, HIStory đã bán được hơn 20 triệu bản (tính theo cấp số nhân, tổng cộng là 40 triệu bản) trên toàn thế giới,[45] theo MSNBC, là album đa đĩa bán chạy nhất mọi thời đại.[46]

HIStory nhận được nhiều đề cử giải Grammy trong hai năm 1996 và 1997, và chiến thắng một giải. "You Are Not Alone" được đề cử ở hạng mục Trình diễn giọng pop nam xuất sắc nhất, "Scream" được đề cử ở hạng mục Hợp tác giọng pop xuất sắc nhất và video của nó giành giải Video hình thái ngắn xuất sắc nhất; "Earth Song" cũng được đề cử ở hạng mục này một năm sau đó. Album còn được đề cử cho Album của năm. Tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 1995, "Scream" đã nhận được mười đề cử, và chiến thắng ba giải.



Jackson đang biểu diễn "Earth Song" ngày 20 tháng 6 năm 1997, tại Lausanne trong HIStory World Tour. Trong màn biểu diễn Jackson treo lơ lửng từ các cạnh của cần cẩu

Nhiều đĩa đơn đã được phát hành từ HIStory. "Scream/Childhood", là một đĩa đơn mặt A-đôi, đã được phát hành như là đĩa đơn đầu tiên trích từ HIStory vào tháng 5 năm 1995. "Scream" được hát và thực hiện bởi Jackson và em gái Janet Jackson. Đĩa đơn nhanh chóng ra mắt ở vị trí thứ năm - cũng là vị trí cao nhất của nó, trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Bài hát đã nhận được một đề cử Grammy cho "Trình diễn hợp tác giọng pop xuất sắc nhất".[47][48] Video ca nhạc cho "Scream" là một trong những bài hát được giới phê bình hoan nghênh nhất về video ca nhạc của Jackson, và gặt hái nhiều giải thưởng và đề cử lớn. Với ngân sách sản xuất video là chín triệu đô-la, "Scream" đã được công nhận là video ca nhạc đắt đỏ nhất từng được thực hiện vào năm 2010.[49]

"You Are Not Alone" là đĩa đơn thứ hai phát hành từ HIStory. Sau khi ra mắt ở vị trí số một trên Billboard Hot 100 vào ngày 2 tháng 9 năm 1995,[50] nó trở thành bài hát đầu tiên trong lịch sử bảng xếp hạng làm được điều này, phá vỡ kỷ lục trước đó của "Scream".[47] "You Are Not Alone" đã được phát hành trong tháng 8 năm 1995, đứng đầu các bảng xếp hạng tại các thị trường quốc tế như Vương quốc Anh,[20] Pháp, và Tây Ban Nha.[51] Bài hát này được xem là một thành công lớn về mặt nghệ thuật lẫn thương mại.

"Earth Song" là đĩa đơn thứ ba được phát hành vào tháng 11 năm 1995. "Earth Song" không lọt vào bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Trên thị trường quốc tế, nó đứng đầu các bảng xếp hạng ở bốn quốc gia, và nằm trong top 10 ở chín quốc gia khác.[52] Bài hát đã đứng đầu bảng xếp hạng UK Singles Chart ở Vương quốc Anh trong sáu tuần vào dịp Giáng sinh năm 1995 và đã bán được một triệu bản, trở thành đĩa đơn thành công nhất của Jackson tại đây.[48]

"They Don't Care About Us" là đĩa đơn thứ tư. Nó đạt đến vị trí 30 trên Hot 100, và nằm trong top 10 của Billboard's Hot Dance Music và Hot R&B Singles Charts.[53]. Bài hát thành công hơn tại các quốc gia khác, so với Hoa Kỳ, khi nằm trong top 10 tại 14 quốc gia. Bài hát đạt vị trí quán quân ở Đức trong ba tuần,[54] hạng hai ở Tây Ban Nha, hạng ba ở Áo, Thụy Điển và Thụy Sĩ, cũng như hạng tư ở Pháp và Hà Lan.

"Stranger in Moscow" được phát hành như là đĩa đơn thứ năm và cuối cùng trong tháng 11 năm 1996, và nhận được nhiều phản ứng tích cực từ các nhà phê bình. "Stranger in Moscow" trở thành đĩa đơn kém thành công nhất của Jackson tại Hoa Kỳ, nơi nó đạt vị trí thứ 90.[55] Tuy nhiên, bài hát lại đạt được những thành tích khả quan hơn trên thị trường quốc tế, đứng đầu bảng xếp hạng ở Tây Ban Nha và Ý, trong khi lọt vào top 10 ở New Zealand, Thụy Sĩ và Vương quốc Anh.




















































1. "Scream" (song ca với Janet Jackson)James Harris III, Terry Lewis, Michael Jackson, Janet Jackson 4:38
2. "They Don't Care About Us"  Michael Jackson 4:44
3. "Stranger in Moscow"  Michael Jackson 5:43
4. "This Time Around" (hợp tác với The Notorious B.I.G.)Michael Jackson, Dallas Austin, Bruce Swedien, René Moore 4:20
5. "Earth Song"  Michael Jackson 6:46
6. "D.S." (hợp tác Slash)Michael Jackson 4:50
7. "Money"  Michael Jackson 4:41
8. "Come Together" (hát lại từ The Beatles)John Lennon, Paul McCartney 4:02
9. "You Are Not Alone"  R. Kelly 5:45
10. "Childhood" (bài hát chủ đề của Free Willy 2)Michael Jackson 4:28
11. "Tabloid Junkie"  Michael Jackson, James Harris III, Terry Lewis 4:32
12. "2 Bad" (hợp tác với Shaquille O'Neal)Michael Jackson, Bruce Swedien, René Moore, Dallas Austin 4:49
13. "HIStory" (hát nền bởi Boyz II Men)Michael Jackson, James Harris III, Terry Lewis 6:37
14. "Little Susie"  Michael Jackson 6:13
15. "Smile" (hát lại từ Charlie Chaplin)Charlie Chaplin; John Turner, Geoffrey Parsons 4:56









  1. ^ Chery, Carl: XXL: Michael Jackson Special Collector's Edition, p. 100. American Press.

  2. ^ Ken Tucker (ngày 25 tháng 6 năm 2009). “Beyond the Pale”. EW.com. Time Warner Inc. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2010. 

  3. ^ Taraborrelli, p. 370–373

  4. ^ Taraborrelli, p. 365

  5. ^ “Michael Jackson speaks: 'I am totally innocent of any wrongdoing.'”. Jet. Ngày 10 tháng 1 năm 1994. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2008. 

  6. ^ Taraborrelli, p. 518–520

  7. ^ a ă â Campbell (1995), p. 89–93

  8. ^ Taraborrelli, p. 524–528

  9. ^ Campbell (1995), p. 104–106

  10. ^ a ă HIStory: Past, Present and Future, Book I liner notes Epic Records (1995).

  11. ^ a ă â b c d Patrick Macdonald (ngày 21 tháng 6 năm 1995). “'History' Lesson: Jackson's Living On Past Glories”. The Seattle Times. The Seattle Times Company. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2010. 

  12. ^ Jim Farber (ngày 19 tháng 6 năm 1995). “HIS-SY FIT”. New York Daily News (Mortimer Zuckerman). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. [liên kết hỏng]

  13. ^ a ă â b c d đ James Hunter (ngày 10 tháng 8 năm 1995). “Michael Jackson HIStory”. Rolling Stone. Wenner Media LLC. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2008. 

  14. ^ a ă â David Browne (ngày 23 tháng 6 năm 1995). “HIStory: Past, Present, and Future Book I (1992)”. Entertainment Weekly. Time Warner, Inc. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 

  15. ^ Friedman, Roger (ngày 11 tháng 10 năm 2007). “Britney Spears' 'Blackout' Hits Internet”. Fox News Channel. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2008. 

  16. ^ “R Kelly 'copied Belgian song'”. The Independent. Ngày 12 tháng 9 năm 2007. 

  17. ^ “Michael Jackson sings of D.A. on previous album”. CNN (Time Warner Inc). Ngày 20 tháng 11 năm 2003. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 

  18. ^ Friedman, Roger (ngày 3 tháng 11 năm 2003). “Jacko Song About D.A. May Haunt Him”. Fox News Channel (News Corporation). Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 

  19. ^ Pratt, p. 792

  20. ^ a ă George, p. 48

  21. ^ Wright, Rickey (ngày 18 tháng 6 năm 1995). “Jackson's Self-Glorifying Double CD History Certainly Is No Thriller”. The Virginian-Pilot. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2010. The hard-funk workout of Tabloid Junkie features some good production ideas that suggest Jackson could mastermind one more chart comeback for James Brown 

  22. ^ Jackson, Michael. HIStory booklet. Sony BMG. p 50

  23. ^ a ă “Helnwein’s Artwork – Beautiful Victim”. Ngày 31 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2010. 

  24. ^ a ă â Bernard Weinraub (ngày 15 tháng 6 năm 1995). “In New Lyrics, Jackson Uses Slurs”. The New York Times (The New York Times Company). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 

  25. ^ “Jewish Response to Jackson”. The New York Times (The New York Times Company). Ngày 16 tháng 6 năm 1995. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 

  26. ^ Dinitia Smith (ngày 17 tháng 6 năm 1995). “Michael Jackson Apologizes For Hurt Caused by Lyrics”. The New York Times (The New York Times Company). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 

  27. ^ Pareles, Jon (ngày 18 tháng 6 năm 1995). “Pop View; Michael Jackson Is Angry, Understand?”. The New York Times (The New York Times Company). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 

  28. ^ a ă Chris Riemenschneider (ngày 23 tháng 6 năm 1995). “Jackson Will Re-Record `Care' Lyrics Pop music: Michael Jackson apologizes and says he plans to change the words in `They Don't Care About Us' that some considered to be racial slurs.”. Los Angeles Times (Tribune Company). 

  29. ^ Dinitia Smith (ngày 23 tháng 6 năm 1995). “Jackson Plans New Lyrics For Album”. The New York Times (The New York Times Company). Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 


  30. ^ Grant, Adrian (1998). Michael Jackson: Making History. Omnibus Press. ISBN 0-7119-6723-7. 

  31. ^ Dunn, Christoper (2001). Brutality Garden. UNC Press. tr. 207. ISBN 0-8078-4976-6. 

  32. ^ Crock, Larry (2005). Brazilian Music. ABC-CLIO. tr. 296. ISBN 1-57607-287-8. 

  33. ^ Nagib, Lúcia (2003). The New Brazilian Cinema. I.B. Tauris. tr. 123. ISBN 1-86064-928-9. 

  34. ^ Leila Cobo (ngày 11 tháng 7 năm 2009). “We Are the World: Brazil”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2011. 

  35. ^ a ă "First look at Michael Jackson's new music video on Entertainment Tonight". (ngày 29 tháng 3 năm 1996). PR Newswire.

  36. ^ George, p. 48–50

  37. ^ a ă “Extra oomph on field”. The Telegraph. Ngày 3 tháng 9 năm 2004. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 

  38. ^ Hip Hop Divas, Vibe Magazine Staff, Three Rivers Press, 2001, ISBN 0-609-80836-2, p. 224

  39. ^ a ă Shaheem Reid (ngày 23 tháng 1 năm 2008). “Lil Mama Reflects On Her Journey 'From The 'Hood To The Stage' Of Madison Square Garden”. MTV. Viacom. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 

  40. ^ “Yahoo! Movies biography”. Yahoo. Yahoo Inc. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 

  41. ^ Farley, Christopher (ngày 19 tháng 6 năm 1995). “History and hubris”. Time. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2008. 

  42. ^ “Jackson's 'Invincible' To Debut At No. 1”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Ngày 7 tháng 11 năm 2001. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 

  43. ^ Carl Bialik (ngày 15 tháng 7 năm 2009). “Spun: The Off-the-Wall Accounting of Record Sales”. Online.WSJ.com (Dow Jones & Company, Inc). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 

  44. ^ Putti, Laura (ngày 24 tháng 8 năm 2001). “Il nuovo Michael Jackson fa un tuffo nel passato”. La Repubblica (bằng tiếng Ý). Gruppo Espresso. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2009. 

  45. ^ Access Hollywood (ngày 2 tháng 11 năm 2006). “The return of the King of Pop”. MSNBC. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2008. 

  46. ^ a ă Taraborrelli, J. Randy (2004). The Magic and the Madness. Headline. ISBN 0-330-42005-4. 

  47. ^ a ă Michael Jackson, The Ultimate Collection booklet.

  48. ^ Glenday, Craig (2005). Guinness World Records 2006. Guinness. ISBN 1-904994-02-4. 

  49. ^ “Week of ngày 2 tháng 9 năm 1995”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2010. 

  50. ^ “Michael Jackson - You Are Not Alone”. LesCharts.com (bằng tiếng Pháp). Hung Medien. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 

  51. ^ “M. Jackson - Earth Song (nummer)”. Ultratop (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 

  52. ^ “allmusic (((Michael Jackson > Charts & Awards > Billboard Singles)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 

  53. ^ “Artist Chart History - 'They Don't Care About Us' Michael Jackson”. Musicline.de (bằng tiếng Đức). Musicline /Media Control. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2010. 

  54. ^ “Artist Chart History - Michael Jackson”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2010. 

  55. ^ a ă â b “Hits of the World” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 

  56. ^ "Michael Jackson – HIStory: Past, Present And Future - Book I". Australiancharts.com. Hung Medien. Truy cập 20 tháng 3 năm 2017.

  57. ^ "Michael Jackson - HIStory: Past, Present And Future - Book I" (bằng tiếng Đức). Austriancharts.at. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.

  58. ^ "Michael Jackson – HIStory: Past, Present And Future - Book I" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập 13 tháng 10 năm 2015.

  59. ^ "Michael Jackson – HIStory: Past, Present And Future - Book I" (bằng tiếng Pháp). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập 13 tháng 10 năm 2015.

  60. ^ “CD - TOP 10 Semanal De 06 a 12 de Julho de 2009.” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 

  61. ^ “RPM 100 Albums”. RPM. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 

  62. ^ “Hits of the World”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc) 107 (35): 61. 2 tháng 9 năm 1995. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2011. 

  63. ^ http://www.ifpicr.cz/hitparada/index.php?a=titul&hitparada=14&titul=144662&sec=530bf63952c6afc015c8119aa1702076. 

  64. ^ a ă “Hits of the World” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 

  65. ^ "Michael Jackson – HIStory: Past, Present And Future - Book I". Dutchcharts.nl. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.

  66. ^ a ă â b “Hits of the World” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 

  67. ^ “Michael Jackson - Offizielle Deutsche Charts” (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 

  68. ^ "Archívum – Slágerlisták – MAHASZ – Magyar Hangfelvétel-kiadók Szövetsége". Mahasz.hu. LightMedia. Truy cập 13 tháng 10 năm 2015.

  69. ^ “Hits of the World” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2015. 

  70. ^ “HIStory”. Ultratop (bằng tiếng Dutch). Hung Medien. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2010. 

  71. ^ "Michael Jackson – HIStory: Past, Present And Future - Book I". Charts.org.nz. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.

  72. ^ "Michael Jackson – HIStory: Past, Present And Future - Book I". Norwegiancharts.com. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.

  73. ^ "1995-07-18 Top 40 Scottish Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập 13 tháng 10 năm 2015.

  74. ^ "Michael Jackson – HIStory: Past, Present And Future - Book I". Swedishcharts.com. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.

  75. ^ "Michael Jackson – HIStory: Past, Present And Future - Book I". Swisscharts.com. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.

  76. ^ "Michael Jackson | Artist | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.

  77. ^ "1995-07-18 Top 40 R&B Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập 13 tháng 10 năm 2015.

  78. ^ "Michael Jackson Album & Song Chart History" Billboard 200 cho Michael Jackson. Prometheus Global Media. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.

  79. ^ "Michael Jackson Album & Song Chart History" Billboard Top R&B/Hip Hop Albums cho Michael Jackson. Prometheus Global Media. Truy cập 12 tháng 10 năm 2015.

  80. ^ “Best-selling Albums”. Austriancharts.at (bằng tiếng Đức). Hung Medien. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2010. 

  81. ^ a ă “Les Meilleures Ventes de CD/Albums depuis 1968” (bằng tiếng Pháp). InfoDisc. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2014. 

  82. ^ “ARIA Charts - End Of Year Charts - Top 50 Albums 1995”. ARIA. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  83. ^ “Austriancharts.at – Jahreshitparade 1995”. Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2010. 

  84. ^ “Jaaroverzichten 1995” (bằng tiếng Dutch). Ultratop. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  85. ^ “Rapports annueles 1995” (bằng tiếng Pháp). Ultratop. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  86. ^ “Top 100 Albums of 1995”. RPM. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  87. ^ “Jaaroverzichten - Album 1995” (bằng tiếng Dutch). Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  88. ^ “European Top 100 Albums 1995” (PDF). Music & Media. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2017. 

  89. ^ “Classement Albums - année 1995” (bằng tiếng Pháp). SNEP. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  90. ^ “Top 100 Album-Jahrescharts 1995” (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  91. ^ “Gli album più venduti del 1995”. Hit Parade Italia. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  92. ^ “1995年 アルバム年間TOP100” (bằng tiếng Japanese). Oricon. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  93. ^ “Top Selling Albums of 1995”. RIANZ. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  94. ^ “Topp 40 Album Sommer 1995” (bằng tiếng Na Uy). VG-lista. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2017. 

  95. ^ “Årslista Album (inkl samlingar) – År 1995” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014. 

  96. ^ “Swiss Year-end Charts 1995”. Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  97. ^ “End of Year Album Chart Top 100 - 1995”. OCC. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  98. ^ a ă “1995 Year-end Charts” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  99. ^ “ARIA Charts - End Of Year Charts - Top 50 Albums 1996”. ARIA. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  100. ^ “Austriancharts.at – Jahreshitparade 1996”. Hung Medien. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2010. 

  101. ^ “Jaaroverzichten - Album 1996” (bằng tiếng Dutch). Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  102. ^ “European Top 100 Albums 1996” (PDF). Music & Media. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2017. 

  103. ^ “Classement Albums - année 1996” (bằng tiếng Pháp). SNEP. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  104. ^ “Top 100 Album-Jahrescharts 1996” (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  105. ^ “Top Selling Albums of 1996”. RIANZ. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  106. ^ “Årslista Album (inkl samlingar) – År 1996” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014. 

  107. ^ “Swiss Year-end Charts 1996”. Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  108. ^ “End of Year Album Chart Top 100 - 1996”. OCC. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  109. ^ “1996 Year-end Charts” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  110. ^ “ARIA Charts - End Of Year Charts - Top 50 Albums 1997”. ARIA. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  111. ^ “Jaaroverzichten 1997” (bằng tiếng Dutch). Ultratop. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  112. ^ “Rapports annueles 1997” (bằng tiếng Pháp). Ultratop. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  113. ^ “Jaaroverzichten - Album 1997” (bằng tiếng Dutch). Hung Medien. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  114. ^ “European Top 100 Albums 1997” (PDF). Music & Media. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2017. 

  115. ^ “Classement Albums - année 1997” (bằng tiếng Pháp). SNEP. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  116. ^ “Top 100 Album-Jahrescharts 1997” (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  117. ^ “Top Selling Albums of 1997”. RIANZ. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  118. ^ “Top 100 Album-Jahrescharts 2009” (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015. 

  119. ^ “Argentina album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I”. Argentine Chamber of Phonograms and Videograms Producers. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  120. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2009 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  121. ^ “Austrian album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014.  Nhập Michael Jackson vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập HIStory: Past, Present and Future, Book I vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)

  122. ^ “Brasil album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  123. ^ “Canada album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I”. Music Canada. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  124. ^ “Denmark album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I”. IFPI Đan Mạch. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  125. ^ a ă “Finland album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I” (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  126. ^ “France album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  127. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Michael Jackson; 'HIStory - Past, Present And Future - Book')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  128. ^ “Italy album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014.  Chọn Album e Compilation ở mục Sezione. Nhập Michael Jackson vào mục Filtra.

  129. ^ “Japan album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I” (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Nhật Bản. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  130. ^ “Certificaciones – Michael Jackson” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  131. ^ “Netherlands album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I” (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Vereniging van Producenten en Importeurs van beeld - en geluidsdragers. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  132. ^ “Latest Gold / Platinum Albums”. Radioscope. 17 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2011. 

  133. ^ “Norway album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I” (bằng tiếng Na Uy). IFPI Na Uy. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  134. ^ “Poland album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I” (bằng tiếng Ba Lan). ZPAV. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  135. ^ Korea Chart1, 1996-02-29

  136. ^ Korea Sales, 1996-12-26

  137. ^ “Spain album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014.  Chọn bảng xếp hạng, nhập ' vào khung "Year". Chọn ' trong khung "Semana". Nhấp vào "Search Charts"

  138. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 1987−1998” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  139. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Michael Jackson; 'HIStory')”. IFPI Switzerland. Hung Medien. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

  140. ^ “Britain album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014.  Nhập HIStory: Past, Present and Future, Book I vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Album trong khung By Format. Nhấn Search

  141. ^ “Britain album certifications – Michael Jackson – Greatest Hits - History Vol 1” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014.  Nhập Greatest Hits - History Vol 1 vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Album trong khung By Format. Nhấn Search

  142. ^ “American album certifications – Michael Jackson – HIStory: Past, Present and Future, Book I” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search

  143. ^ “American album certifications – Michael Jackson – Greatest Hits: History Volume 1” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search

  144. ^ “IFPI Platinum Europe Awards – 1997”. Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 




Comments

Popular posts from this blog

Bạo động tại Ürümqi, tháng 7 năm 2009 – Wikipedia tiếng Việt

Bạo loạn Tân Cương (tiếng Anh: Xinjiang riots ), hay Vụ bạo động tại Ürümqi (tiếng Anh: July 2009 Ürümqi riots ), thủ phủ của khu tự trị dân tộc Duy Ngô Nhĩ Tân Cương ở miền Tây Trung Quốc xảy ra vào đêm ngày 5 tháng 7 năm 2009. Vụ bạo động bao gồm 1.000 người [2] [3] [4] tham gia và sau đó đã tăng lên tới khoảng 3.000 người [5] . Ít nhất đã có 184 người chết, trong đó có 137 là người Hán và 46 là người Duy Ngô Nhĩ và 1 người Hồi. [1] Đây được coi là vụ bạo lực sắc tộc tồi tệ nhất Trung Quốc, diễn ra sau một năm khi xảy ra vụ bạo động Tây Tạng 2008. Bạo lực là một phần của cuộc xung đột sắc tộc đang diễn ra giữa người Hán và người Uyghur (phiên âm Hán: Duy Ngô Nhĩ) - một dân tộc gốc Turk chủ yếu theo đạo Hồi và là một trong những nhóm sắc tộc được công nhận chính thức tại Trung Quốc. Nhiều người cho rằng vụ bạo động bùng phát bởi sự bất mãn với cách giải quyết của chính quyền trung ương Trung Quốc về cái chết của hai công nhân người Uyghur tại tỉnh Quảng Đông [6] [7] . Tân Hoa xã n

Bài tấn – Wikipedia tiếng Việt

Tấn là cách chơi bài của Nga, du nhập vào Việt Nam, được chơi bởi 2-4 người. Đây là một trong những cách chơi thông dụng của bộ bài Tây. Trò này bắt nguồn từ nước Nga, với tên Durak (thằng ngốc - dùng để chỉ người còn bài cuối cùng). Các lá bài [ sửa | sửa mã nguồn ] 5 quân lớn trong bộ tú lơ khơ. Trò chơi sử dụng bộ bài tiêu chuẩn (gồm 52 lá bài). Xếp hạng "độ mạnh" của các quân bài theo thứ tự giảm dần như sau: A (đọc là át, ách hay xì)> K (đọc là ca hay già)> Q (đọc là quy hay đầm)> J (đọc là gi hay bồi)> 10> 9> 8> 7> 6> 5> 4> 3> 2. Lá bài A là lá mạnh nhất và lá 2 là lá bài yếu nhất. Chia bài, chọn nước bài chủ [ sửa | sửa mã nguồn ] Chơi từ 2-4 người. Người chơi quyết định ai là người chia. Mỗi người 8 quân bài, chọn chiều chia bài là chia ngược chiều (hoặc theo chiều) kim đồng hồ (chiều chia bài cũng là chiều đánh), sau khi chia xong bốc thêm một lá để quyết định chất chủ (hoặc chất trưởng). Lá bốc được mang chất nào (Cơ, Rô, C

Mitsubishi – Wikipedia tiếng Việt

Mitsubishi Group Ngành nghề Tập đoàn Thành lập 1870 Người sáng lập Iwasaki Yataro Trụ sở chính Tokyo, Nhật Bản Khu vực hoạt động Toàn cầu Nhân viên chủ chốt CEO, Ken Kobayashi Sản phẩm Khai khoáng, công nghiệp đóng tàu, viễn thông, tài chính, bảo hiểm, điện tử, ô tô, xây dựng, công nghiệp nặng, dầu khí, địa ốc, thực phẩm, hóa chất, luyện kim, hàng không... Doanh thu US$ 248.6 tỉ (2010) Lợi nhuận ròng US$ 7.2 tỉ (2010) Số nhân viên 350,000 (2010) Website Mitsubishi .com Logo của Mitsubishi là ba củ ấu chụm vào nhau Mitsubishi là một tập đoàn công nghiệp lớn của Nhật Bản. Công ty Mitsubishi đầu tiên là một công ty chuyển hàng thành lập bởi Yataro Iwasaki (1834–1885) năm 1870. Năm 1873, tên công ty được đổi thành Mitsubishi Shokai (三菱商会: Tam Lăng thương hội). Tên Mitsubishi (三菱) có hai phần: " mitsu " tức tam có nghĩa là " ba " và " hishi " tức lăng (âm " bishi " khi ở giữa chữ) có nghĩa là " củ ấu ", loại củ có hai đầu nhọn. Từ ngu