Skip to main content

Ilya Ilyich Mechnikov – Wikipedia tiếng Việt

Ilya Ilyich Mechnikov (tiếng Nga: Илья Ильич Мечников) (cũng dịch sang tiếng Anh là Elie Metchnikoff) (16.5.1845 – 15.7.1916) là nhà vi sinh vật học người Nga, nổi tiếng về công trình nghiên cứu tiên phong về hệ miễn dịch. Mechnikov đoạt giải Nobel Y học năm 1908, về công trình nghiên cứu sự thực bào (phagocytosis).





Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]


Mechnikov sinh tại một làng gần Kharkiv của Đế quốc Nga, là con trai út của Ilya Mechnikov, một vệ binh của đế quốc Nga, và Emilia Nevakhovich Mechnikov. Người anh cả, Lev, là một nhà địa lý học và xã hội học xuất chúng. Mechnikov chủ yếu được nuôi dưỡng bởi người mẹ gốc Do Thái, ông đam mê môn lịch sử tự nhiên. Khi đọc quyển The Origin of Species (Nguồn gốc các loài) của Charles Darwin mới xuất bản, ông đã hiểu rất rõ về "sự sống sót của sinh vật đủ khả năng thích ứng nhất" (survival of the fittest) và say mê khảo sát học hỏi.

Ông theo học ngành khoa học tự nhiên ở Đại học Quốc gia Kharkiv, hoàn tất học trình 4 năm trong vòng 2 năm. Sau đó ông sang Đức nghiên cứu hệ động vật biển trên một đảo nhỏ Heligoland trên Bắc Hải, rồi ở Đại học Giessen, Đại học Göttingen và Đại học München. Năm 1867 ông trở lại Nga, được bổ nhiệm làm docent[1] ở trường Đại học Odessa mới thành lập, sau đó được bổ nhiệm ở Đại học St. Petersburg. Năm 1870 ông trở lại Odessa để nhận chức giáo sư thực thụ khoa Động vật học và khoa Giải phẫu học so sánh.


Nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]


Ilya Ilyich Mechnikov, by Nadar.

Illya Mechnikov.JPG

Mechnikov quan tâm tới việc nghiên cứu vi trùng, nhất là hệ miễn dịch. Năm 1882 ông từ chức ở Đại học Odessa và lập một phòng thí nghiệm tư ở Messina để nghiên cứu khoa phôi học so sánh, từ đó ông đã phát hiện ra sự thực bào (phagocytosis) sau khi thí nghiệm trên ấu trùng của con sao biển. Ông đưa ra lý thuyết là một số các tế bào bạch cầu có thể vây bọc và phá hủy các vật thể có hại - như các vi trùng chẳng hạn – đã gặp sự hoài nghi từ các chuyên gia hàng đầu, trong đó có Louis Pasteur, Behring và các người khác.

Mechnikov trở lại Odessa làm giám đốc một viện được thành lập để làm vắc-xin của Pasteur chống lại bệnh dại (rabies), nhưng do gặp một số khó khăn, năm 1888 ông đã bỏ sang Paris tìm lời khuyên của Pasteur. Pasteur bổ nhiệm ông vào làm trong viện Pasteur, nơi ông làm việc cho tới cuối đời.

Công trình của Mechnikov về sự thực bào đã mang lại cho ông giải Nobel Sinh lý và Y khoa năm 1908. Ông làm việc với Émile Roux về calomel[2], một thuốc mỡ ngăn ngừa cho người ta khỏi nhiễm bệnh giang mai, một bệnh lây truyền qua đường tình dục.

Mechnikov cũng khai triển lý thuyết cho rằng sự lão hóa là do các vi trùng độc gây ra trong ruột, và axít lactic có thể kéo dài cuộc sống. Căn cứ trên lý thuyết này, ông đã uống sữa chua (yogurt) hàng ngày.

Ông đã viết 3 tác phẩm: Immunity in Infectious Diseases, The Nature of Man, và The Prolongation of Life: Optimistic Studies, quyển chót, cùng với các nghiên cứu của Metchnikoff về các đặc tính kéo dài sự sống tiềm tàng của các vi sinh vật axít lactic (Lactic Acid Bacteria), đã gợi ý cho nhà khoa học Nhật Bản Minoru Shirota bắt đầu nghiên cứu quan hệ nhân quả giữa các vi sinh vật và vệ sinh đường ruột, cuối cùng dẫn tới việc tiếp thị món Yakult[3] khắp thế giới cùng các thực phẩm lên men, sữa, thức uống khác hoặc probiotics[4].


Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]


Mechnikov kết hôn với người vợ thứ nhất là Ludmilla Feodorovitch năm 1863. Bà bị chết vì bệnh lao ngày 20 tháng 4 năm 1873. Cái chết của vợ, cùng với những khó khăn khác đã khiến cho Mechnikov tìm cách tự tử bằng cách uống liều thuốc phiện lớn mà không thành.

Ông lại tái hôn năm 1875 với Olga Belokopytova, và bà đã từ trần năm 1880 vì bệnh thương hàn. Sau cái chết của Olga, ông lại tìm cách tự tử bằng việc tự tiêm cho mình "bệnh sốt hồi qui" (relapsing fever), và cũng không chết, nhưng bị suy yếu rất nhiều. Ông qua đời ngày 15 tháng 7 năm 1916 tại Paris do bị liệt tim.




  1. ^ tương đương phó giáo sư, dưới giáo sư thực thụ và trên giảng viên

  2. ^ công thức hóa học Cl-Hg-Hg-Cl

  3. ^ Thương hiệu của thức uống làm bằng sữa bò lên men bằng Lactobacillus casei

  4. ^ vi sinh vật dùng bổ sung vào một số thực phẩm như sữa chua, làm cho dễ tiêu hóa, có lợi cho sức khỏe





Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Dulce et Decorum Est – Wikipedia tiếng Việt

Dulce et Decorum est – là bài thơ của nhà thơ Anh Quốc Wilfred Owen viết năm 1917 và được công bố năm 1921, sau khi nhà thơ đã hy sinh tại một trận đánh vào năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bài thơ có 28 dòng. Đầu tiên, đây là một bức thư riêng nhưng sau Wilfred Owen đã quyết định công bố đến đông đảo bạn đọc.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những người lính trận mạc băng qua bùn lầy, khói lửa của chiến tranh trở về phía sau… Mệt mỏi và bị hơi độc tấn công… Một người trong số họ bị chết vì trúng khí độc… Khổ cuối là những lời kêu gọi chống chiến tranh. Tác giả dùng câu danh ngôn của đại thi hào Horace thời La Mã cổ đại: Dulce et decorum est/ pro patri mori (Được chết vì tổ quốc/ sung sướng và ngọt ngào thay). Bài thơ được viết bằng một tình cảm chân thành và chính điều này đã làm cho nó trở thành một trong những bài thơ chống chiến tranh nổi tiếng nhất.


Dulce et Decorum Est

Bent double, like old beggars under sacks,
Knock-kneed, coughing like hags, we cursed through …

PETN – Wikipedia tiếng Việt

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PETN ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.
Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]



Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl axetat, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.
Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.
Các thông số kỹ thuật:


PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc…