Skip to main content

Erotica (bài hát) – Wikipedia tiếng Việt


"Erotica" (tạm dịch: Khiêu dâm) là một bài hát của nghệ sĩ thu âm người Mỹ Madonna nằm trong album phòng thu thứ năm cùng tên của cô (1992). Nó được phát hành vào ngày 29 tháng 9 năm 1992 như là đĩa đơn đầu tiên trích từ album bởi Maverick Records cũng như Sire Records và Warner Bros. Records. Bài hát sau đó còn xuất hiện trong những album tuyệt phẩm của Madonna, như GHV2 (2001) và Celebration (2009). "Erotica" được viết lời và sản xuất bởi Madonna và Shep Pettibone, với sự tham gia hỗ trợ viết lời từ Anthony Shimkin. Về mặt âm nhạc, nó bao gồm những đoạn hát nói và là một lời ngợi ca đến S&M, trong đó Madonna sử dụng bút danh "Dita". Nữ ca sĩ mong muốn người yêu của cô trở nên bị động hơn trong vấn đề tình dục và giúp anh khám phá những ranh giới giữa nỗi đau và niềm vui.

Sau khi phát hành, "Erotica" nhận được những phản ứng tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, trong đó họ gọi nó là đỉnh cao của sự đổi mới trong sự nghiệp của Madonna, mặc dù một số người khác cảm thấy nó thật kinh dị. Bài hát cũng gặt hái những thành công vượt trội về mặt thương mại, đứng đầu các bảng xếp hạng ở Ý và Hy Lạp, và lọt vào top 5 ở nhiều thị trường như Úc, Canada, Phần Lan, Ireland, New Zealand, Na Uy, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Vương quốc Anh. Tại Hoa Kỳ, "Erotica" ra mắt ở vị trí thứ 13 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, trở thành một trong những bài hát đạt thứ hạng ra mắt cao nhất trong lịch sử bảng xếp hạng lúc bấy giờ, và sau đó đạt vị trí thứ ba. Ngoài ra, nó còn ra mắt ở vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng sóng phát thanh ở Hoa Kỳ, một kỷ lục vô tiền khoáng hậu vẫn chưa bị phá vỡ đến nay.[1]

Video ca nhạc cho "Erotica" được đạo diễn bởi nhà nhiếp ảnh gia thời trang Fabien Baron, trong đó Madonna hóa thân thành một người phụ nữ đeo mặt nạ và xen kẽ với những hình ảnh từ cuốn sách Sex của cô, với sự tham gia của nhiều nhân vật nổi tiếng như Naomi Campbell và Big Daddy Kane. Nó đã gây nên làn sóng tranh cãi lớn ngay sau khi ra mắt, và chỉ được phát sóng ba lần trên MTV, tất cả đều sau khoảng thời gian 10 giờ tối, trước khi bị cấm chiếu hoàn toàn. Madonna đã trình diễn "Erotica" ở ba chuyến lưu diễn thế giới trong sự nghiệp của cô, bao gồm The Girlie Show World Tour (1993), Confessions Tour (2006) và gần nhất là tại The MDNA Tour (2012). Bài hát cũng đã được hát lại bởi một số nghệ sĩ.













  1. ^ Trust, Gary (7 tháng 3 năm 2014). “Ask Billboard: Shakira's Biggest Hot 100 Hits”. Billboard. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2015. 

  2. ^ Erotica (US Cassette Single liner notes). Madonna. Maverick Records. 1992. 9-18782-2. 

  3. ^ Erotica (European Cassette Single liner notes). Madonna. Maverick Records. 1992. 9-18681-7. 

  4. ^ Erotica (US Maxi-Single liner notes). Madonna. Maverick Records. 1992. 9-40585-2. 

  5. ^ Erotica (UK Vinyl). Madonna. Maverick Records. 1992. 9-404835-2. 

  6. ^ Erotica (US Cassette Maxi-Single liner notes). Madonna. Maverick Records. 1992. 9-40585-4. 

  7. ^ Erotica (European Maxi-Single liner notes). Madonna. Maverick Records. 1992. 9362-40657-2. 

  8. ^ Erotica (Japan CD Single liner notes). Madonna. Maverick Records. 1992. 10019-6098. 

  9. ^ Sex - Erotic (Erotic liner notes). Madonna. Maverick Records. 1992. PRO-CD-5648. 

  10. ^ "Australian-charts.com - Madonna - Erotica". ARIA Top 50 Singles. Hung Medien. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  11. ^ "Madonna - Erotica Austriancharts.at" (bằng tiếng Đức). Ö3 Austria Top 40. Hung Medien. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  12. ^ "Ultratop.be - Madonna - Erotica" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  13. ^ “Hits of the World” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2017. 

  14. ^ a ă “Top 10 Sales in Europe” (PDF). Music & Media. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2017. 

  15. ^ “Hits of the World” (PDF). Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2017. 

  16. ^ Nyman, Jake (2005). Suomi soi 4: Suuri suomalainen listakirja (bằng tiếng Finnish) (ấn bản 1). Helsinki: Tammi. ISBN 951-31-2503-3. 

  17. ^ "Lescharts.com - Madonna - Erotica" (bằng tiếng Pháp). Les classement single. Hung Medien. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  18. ^ “Madonna - Erotica” (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2017. 

  19. ^ “Top 10 Sales in Europe” (PDF). Music & Media. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2017. 

  20. ^ “Madonna: Discografia Italiana” (bằng tiếng Ý). Federation of the Italian Music Industry. 1984–1999. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 

  21. ^ "The Irish Charts – Search Results – Erotica". Irish Singles Chart. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  22. ^ "Nederlandse Top 40 - week 46, 1992" (bằng tiếng Hà Lan). Dutch Top 40 Stichting Nederlandse Top 40. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  23. ^ "Dutchcharts.nl - Madonna - Erotica" (bằng tiếng Hà Lan). Mega Single Top 100. Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  24. ^ "Charts.org.nz - Madonna - Erotica". Top 40 Singles. Hung Medien. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  25. ^ "Norwegiancharts.com - Madonna - Erotica". VG-lista. Hung Medien. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  26. ^ Salaverri, Fernando (tháng 9 năm 2005). Sólo éxitos: año a año, 1959–2002 (ấn bản 1). Spain: Fundación Autor-SGAE. ISBN 84-8048-639-2. 

  27. ^ "Swedishcharts.com - Madonna - Erotica". Singles Top 60. Hung Medien. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  28. ^ "Madonna - Erotica swisscharts.com". Swiss Singles Chart. Hung Medien. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  29. ^ "Madonna: Artist Chart History" UK Singles Chart. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  30. ^ "Madonna - Chart history" Billboard Hot 100 của Madonna. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  31. ^ "Madonna - Chart history" Billboard Dance Club Songs của Madonna. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  32. ^ "Madonna - Chart history" Billboard Pop Songs của Madonna. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  33. ^ "Madonna - Chart history" Billboard Rhythmic Songs của Madonna. Truy cập 8 tháng 11 năm 2016.

  34. ^ Ryan, Gavin (2011). Australia's Music Charts 1988-2010. Mt. Martha, VIC, Australia: Moonlight Publishing. 

  35. ^ “Jaaroverzichten 1992” (bằng tiếng Dutch). Ultratop. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2016. 

  36. ^ “Eurochart Hot 100 Singles 1992” (PDF). Music & Media. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2017. 

  37. ^ “Top Annuali Single: 1992” (bằng tiếng Ý). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2017. 

  38. ^ “Tokyo Hot 100” (bằng tiếng Japanease). j-wave. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2017. 

  39. ^ “Jaarlijsten 1992” (bằng tiếng Dutch). Stichting Nederlandse Top 40. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2017. 

  40. ^ “Topp 20 Single Høst 1992” (bằng tiếng Na Uy). VG-lista. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2017. 

  41. ^ “Year End Charts: Top Singles”. Music Week: 8. 16 tháng 1 năm 1993. 

  42. ^ Ryan 2011, tr. 174

  43. ^ “American single certifications – Madonna – Erotica” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2015.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search





Comments

Popular posts from this blog

Nhậm Gia Huyên – Wikipedia tiếng Việt

Selina Ren sinh ngày 31 tháng 10 năm 1981 tại thành phố Đài Bắc, Đài Loan, là một thành viên của nhóm nhạc nữ Đài Loan mang tên S.H.E.




Ngày 8 tháng 8 năm 2000, nhà sản xuất HIM (HIM International Records) tổ chức cuộc thi "Universal 2000 talent and Beauty Girl contest" để chọn ra những nữ ca sĩ mới có thể quảng bá cho thương hiệu của họ. Có hơn 1000 thí sinh đã đăng ký dự thi, và sau những đợt chọn lọc liên tiếp, chỉ còn lại 7 thí sinh tham gia vào phần thi cuối cùng mang tên "The Cruel Stage". Theo như đúng luật thi, trong số 7 người cuối cùng chỉ được phép chọn ra một người thắng cuộc duy nhất. Thế nhưng, ban giám khảo đã chọn cả ba người thắng cuộc là Selina, Hebe và Ella. Với Selina, cô đến với cuộc thi bằng một sự tình cờ khi là người thế chỗ em gái mình vì cô em chưa đủ tuổi dự thi. Selina đã chinh phục ban giám khảo khi trình bày bài hát của nữ ca sĩ nổi tiếng Lý Mân "Before I fall in love". Sau đó, cô đã vượt qua khá dễ dàng các phần thi tiếp theo.


Louis V Joseph de Bourbon-Condé – Wikipedia tiếng Việt

Louis V Joseph de Bourbon-Condé
Hoàng thân Condé
Thông tin chungThê thiếp
Charlotte de Rohan-Soubise, Marie-Catherine de BrignoleHậu duệ
Louis VI Henri de Bourbon-Condé, Louise-Adélaïde de Bourbon-CondéThân phụ
Louis IV Henri de Bourbon-CondéThân mẫu
Caroline von Hessen-Rheinfels-RotenburgSinh
9 tháng 8 năm 1736
ParisMất
13 tháng 5 năm 1818
ChantillyLouis V Joseph de Bourbon-Condé là một quý tộc Pháp, hoàng thân của Condé, prince du sang, sinh 9 tháng 8 năm 1736 tại Paris, mất 13 tháng 5 năm 1818 tại Chantilly


Ông là con duy nhất của Louis Henry I và Landgravine Caroline of Hesse-Rotenburg. Khi còn trẻ ông cưới Charlotte-Godefried de Rohan-Soubise (1737-1760), con gái một người bạn vua Louis XV, Charles de Rohan-Soubise. Hai người có một con trai là Louis Henri Joseph và một con gái là Louise-Adélaide de Condé




Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…