Skip to main content

American Idol (mùa 9) – Wikipedia tiếng Việt

Mùa thi thứ chín của chương trình American Idol chính thức phát sóng vào ngày 12 tháng 01, 2010 và kết thúc vào ngày 26 tháng 5 năm 2010 trên kênh Fox.[2] Giám khảo Simon Cowell,[3]Randy Jackson và Kara DioGuardi[4] sẽ tái xuất trong hội đồng giám khảo. Sau nhiều lần có ý định rời bỏ và quay lại làm giám khảo chương trình, Paula Abdul đã chính thức bị thay thế bởi giám khảo mới Ellen DeGeneres vào ngày 09 tháng 09, 2009.[1] Trước khi chương trình phát sóng, Simon Cowell tuyên bố chia tay chương trình sau mùa thi này. Ngoài ra năm nay chương trình sử dụng format của mùa thi trước với 24 thí sinh vào vòng bán kết và tiếp tục thực hiện gây quỹ qua Idol Gives Back. Đặc biệt ở đêm chung kết mùa này có sự góp mặt của Christina Aguilera với màn trình diễn bài hát You Lost Me.[5]

Tại Việt Nam và cả khu vực Đông Nam Á và Nam Á, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, chương trình được truyền hình trực tiếp trên kênh STAR World vào mỗi thứ tư và thứ năm hàng tuần kể từ ngày 13 tháng 01, 2010.





Khi mùa thi đang chuẩn bị ghi hình, Paula Abdul tuyên bố không trở lại làm một trong bốn vị giám khảo của Idol.[6] Lý do được đưa ra liên quan đến vụ việc giải quyết tranh cãi hợp đồng giữa các bên liên quan vào tháng 08/2009, do đó Victoria Beckham, Mary J. Blige, Shania Twain, Katy Perry, Avril Lavigne, Joe Jonas, Neil Patrick Harris và Kristin Chenoweth được đưa vào thay thế vị trí giám khảo chính trong từng tập của vòng thử giọng.[7][8][9][10] Sau quyết định sử dụng giám khảo khách mời bù lắm cho sự vắng mặt của Paula, nhà điều hành FOX Peter Rice tuyên bố tìm giám khảo mới trước khi trình chiếu, ngày 09/09/2009 được xác nhận Ellen DeGeneres sẽ tham gia hội đồng giám khảo từ tuần thi Hollywood và sau đó.[11][12]

Ngoài ra, Simon Cowell còn thông báo rời bỏ American Idol sau mùa thi năm nay vài ngày trước khi chương trình lên sóng. Chưa có sự thay thế nào được xác nhận.



Trong thời gian nhà sản xuất chương trình tìm kiếm vị giám khảo thứ tư thay thế Paula Abdul, thì vị trí giám khảo thứ tư lần lượt được lắp bởi các giám khảo khách mời sau:[7][13][14][15]





















































Phát sóng
Thành phố[16]Thử giọng địa phương
Ghi hình
Địa điểm ghi hình
Khách mời
Số vé đến Hollywood
12 tháng 01, 2010
Boston, Massachusetts
14 tháng 06, 2009
13 & 14 tháng 08, 2009
Sân vận động Gillette
Victoria Beckham
32
13 tháng 01, 2010
Atlanta, Georgia
18 tháng 06, 2009
16 & 17 tháng 08, 2009
Khu liên hợp Georgia
Mary J. Blige
25
19 tháng 01, 2010
Chicago, Illinois
22 tháng 06, 2009
30 & 31 tháng 08, 2009
United Center
Shania Twain
13
20 tháng 01, 2010
Orlando, Florida
09 tháng 07, 2009
28 & 29 tháng 08, 2009
Quần thể phức hợp Amway
Kristin Chenoweth
31
26 tháng 01, 2010
Pasadena, California
30 tháng 06, 2009
03 tháng 09, 2009
Sân vận động Rose Bowl
Katy Perry
22
04 tháng 09, 2009
Avril Lavigne
27 tháng 01, 2010
Arlington, Texas
26 tháng 06, 2009
24 tháng 08, 2009
Sân vận động Cowboys
Joe Jonas
31
25 tháng 08, 2009
Neil Patrick Harris
02 tháng 02, 2010
Denver, Colorado
14 tháng 07, 2009
05 tháng 08, 2009
Invesco Field
Victoria Beckham
26
Tổng vé đến Hollywood
181
  • Độ tuổi quy định từ 16 đến 28 tính từ ngày 12 tháng 06, 2009 và đủ tư cách công dân Mỹ.

  • Ngày 29/08/2009 không có giám khảo khách mời tham gia ghi hình.

Danh sách dưới đây bao gồm tên của các thí sinh lọt vào Tốp 24:





Ghi chú: Chris Golightly (đã được chọn vào Tốp 24 ở tập trước) được thay thế bởi Tim Urban. Theo báo cáo, Chris bị loại vào ngày 17 tháng 02, 2010, sau khi được công bố lọt vào Tốp 24.[17]









Bảng màu
Nam
Nữ
Tốp 24
Tốp 12
Chiến thắng



An toàn 1

An toàn 2

Bị loại

Cứu trợ























































































































































































Vòng:
Bán kết
Chung kết
Tuấn lễ:
25/02
04/03
11/03
17/03
24/03
31/03
07/04
14/04
21/04
28/04
05/05
12/05
19/05
26/05
Hạng
Thí sinh
Kết quả
1
Lee DeWyze













Chiến thắng
2
Crystal Bowersox













Về nhì
3
Casey James








Bottom 3
Bottom 3


Loại

4
Michael Lynche






CTrợ


At 1
At 1
Loại

5
Aaron Kelly






At 1

At 1

Loại

6
Siobhan Magnus









Loại

7
Tim Urban



At 1
At 2
At 2


Loại

8-9
Katie Stevens




At 1
At 1

Loại

Andrew Garcia






At 2

10
Didi Benami





Loại

11
Paige Miles



At 2
Loại

12
Lacey Brown



Loại

13-16
Lilly Scott


Loại

Alex Lambert



Todrick Hall



Katelyn Epperly



17-20
Haeley Vaughn

Loại

Michelle Delamor


Jermaine Sellers


John Park


21-24
Tyler Grady
Loại

Joe Muñoz

Ashley Rodriguez

Janell Wheeler







Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Dulce et Decorum Est – Wikipedia tiếng Việt

Dulce et Decorum est – là bài thơ của nhà thơ Anh Quốc Wilfred Owen viết năm 1917 và được công bố năm 1921, sau khi nhà thơ đã hy sinh tại một trận đánh vào năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bài thơ có 28 dòng. Đầu tiên, đây là một bức thư riêng nhưng sau Wilfred Owen đã quyết định công bố đến đông đảo bạn đọc.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những người lính trận mạc băng qua bùn lầy, khói lửa của chiến tranh trở về phía sau… Mệt mỏi và bị hơi độc tấn công… Một người trong số họ bị chết vì trúng khí độc… Khổ cuối là những lời kêu gọi chống chiến tranh. Tác giả dùng câu danh ngôn của đại thi hào Horace thời La Mã cổ đại: Dulce et decorum est/ pro patri mori (Được chết vì tổ quốc/ sung sướng và ngọt ngào thay). Bài thơ được viết bằng một tình cảm chân thành và chính điều này đã làm cho nó trở thành một trong những bài thơ chống chiến tranh nổi tiếng nhất.


Dulce et Decorum Est

Bent double, like old beggars under sacks,
Knock-kneed, coughing like hags, we cursed through …

PETN – Wikipedia tiếng Việt

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PETN ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.
Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]



Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl axetat, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.
Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.
Các thông số kỹ thuật:


PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc…