Skip to main content

Thời đại tân kỳ – Wikipedia tiếng Việt

Thời đại tân kỳ (tựa gốc tiếng Anh: Modern Times) là một bộ phim câm hài hước của Mỹ, công chiếu vào năm 1936, do Charlie Chaplin thực hiện. Phim xoay quanh nhân vật gã lang thang trong nỗ lực để tồn tại ở một thế giới công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bộ phim phản ánh sự bóc lột sức lao động và cuộc sống bấp bênh của hàng triệu người trong thời kỳ khủng hoảng, mà theo Chaplin, là do hậu quả của thời đại tân kỳ. Bộ phim phê phán sự công nghiệp hóa (kỹ nghệ hóa) và qua đó là nguyên nhân gây ra việc đánh mất cá tính, quyền cá nhân bởi áp lực thời gian và công việc vận hành đơn điệu, lệ thuộc vào máy móc. Phần đông nhân vật được diễn tả như bị xói mòn nhân cách, ngoại trừ nhân vật chính Charlie duy trì được sự nhạy cảm của mình và nhân tính, phản ánh qua tình yêu với cô gái lang thang.

Các diễn viên tham gia gồm Charlie Chaplin, Paulette Goddard, Henry Bergman, Stanley Sandford và Chester Conklin. Biên kịch và đạo diễn đều bởi Chaplin.

Thời đại tân kỳ được Thư viện Quốc hội Mỹ chọn bảo tồn trong Viện lưu trữ phim quốc gia Mỹ vì "ý nghĩa văn hóa".





Charlie Chaplin trong phim Thời đại tân kỳ.

Trailer quảng cáo phim năm 1936

Thời đại tân kỳ kể về gã lang thang (Charlie Chaplin) làm công nhân nhà máy, gã làm việc siết con vít của các chi tiết máy chạy trên một dây chuyền lắp ráp. Sau khi trải qua một số chuyện kinh khủng như bị "ép ăn" bằng một cái máy ăn trưa hiện đại và phải làm việc với một tốc độ chóng mặt, gã hóa tâm thần và được người ta đưa vào bệnh viện. Sau khi rời khỏi đó, gã mất việc. Trên đường đi, gã lang thang thấy một lá cờ đỏ bị rơi và gã cố gắng trả lại, ngẫu nhiên lại thành người phất cờ đi đầu trong một đám biểu tình của người thất nghiệp. Cảnh sát ùa đến và do nhầm lẫn, gã lang thang bị tống vào tù. Trong tù, gã không may ăn nhầm phải thuốc phiện lậu và đi lung tung. Cũng nhờ thuốc mà gã có sức khỏe đánh gục bọn côn đồ định vượt ngục, gã trở thành một anh hùng và được trả tự do.

Ra ngoài, cuộc sống trở nên vô cùng khó khăn, gã lang thang cố gắng để bị bắt lại vào tù sau khi mất một công việc đứng đắn. Gã nhận tội thay cho một cô gái bụi đời mồ côi bố mẹ (Paulette Goddard) đang bị truy đuổi vì ăn cắp một ổ bánh mì trong lúc quá đói. Người ta bắt gã nhưng có một nhân chứng đã vạch trần trò bịp của gã và thế là gã vẫn tự do. Vì muốn bị bắt, gã lang thang vào cửa hàng và ngốn một lượng thức ăn khổng lồ mà không trả tiền. Khi bị cho lên xe tù, gã gặp lại cô gái nọ và họ cùng nhau bỏ trốn. Mơ ước một cuộc sống tốt đẹp hơn, gã lang thang làm việc bảo vệ gác đêm ở siêu thị, lén đưa cô gái vào và ăn trộm một ít thức ăn. Sáng hôm sau người ta tìm thấy gã trong một đống vải trên quầy hàng, và gã đã bị bắt.

Mười ngày sau, cô gái đưa gã về ngôi nhà của họ - một căn chòi làm tạm mà cô thừa nhận "không phải nhưng sẽ là cung điện Buckingham". Hôm sau, gã lang thang đọc một mẩu tin quảng cáo và kiếm được một việc làm. Trong lúc làm việc, gã làm ông sếp kẹt vào cỗ máy và phải xoay xở đưa ông ta ra. Công nhân nhà máy đình công. Ngẫu nhiên gã lang thang làm bay một cục gạch vào đầu viên cảnh sát, gã lại phải vào tù. Hai tuần sau, gã được thả ra và gặp lại cô gái bụi đời, giờ đã là một vũ công ở quán cà phê, cô xin ông chủ cho gã vào làm việc trong quán. Đến đêm, gã trở thành một bồi bàn hữu dụng tuy không phân biệt nổi sự khác nhau giữa cửa "vào" và cửa "ra" trong nhà bếp, và đã đưa được một con vịt quay đến một bàn ăn. Đến màn biểu diễn, gã tự biên tự diễn một bài hát bằng nhiều ngôn ngữ, dùng các biện pháp chơi chữ và trở thành ngôi sao trong đêm đó. Bỗng cảnh sát xông vào để bắt cô gái bụi đời và họ lại cùng nhau chạy trốn. Bộ phim khép lại với cảnh hai con người bên nhau sánh bước trên con đường dài trong ánh bình minh, tương lai dẫu vẫn mù mịt nhưng lòng tràn trề hy vọng.



Nữ diễn viên Paulette Goddard.


Danh sách của AFI[sửa | sửa mã nguồn]





Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Dulce et Decorum Est – Wikipedia tiếng Việt

Dulce et Decorum est – là bài thơ của nhà thơ Anh Quốc Wilfred Owen viết năm 1917 và được công bố năm 1921, sau khi nhà thơ đã hy sinh tại một trận đánh vào năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bài thơ có 28 dòng. Đầu tiên, đây là một bức thư riêng nhưng sau Wilfred Owen đã quyết định công bố đến đông đảo bạn đọc.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những người lính trận mạc băng qua bùn lầy, khói lửa của chiến tranh trở về phía sau… Mệt mỏi và bị hơi độc tấn công… Một người trong số họ bị chết vì trúng khí độc… Khổ cuối là những lời kêu gọi chống chiến tranh. Tác giả dùng câu danh ngôn của đại thi hào Horace thời La Mã cổ đại: Dulce et decorum est/ pro patri mori (Được chết vì tổ quốc/ sung sướng và ngọt ngào thay). Bài thơ được viết bằng một tình cảm chân thành và chính điều này đã làm cho nó trở thành một trong những bài thơ chống chiến tranh nổi tiếng nhất.


Dulce et Decorum Est

Bent double, like old beggars under sacks,
Knock-kneed, coughing like hags, we cursed through …

PETN – Wikipedia tiếng Việt

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PETN ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.
Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]



Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl axetat, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.
Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.
Các thông số kỹ thuật:


PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc…