Skip to main content

Seikanron – Wikipedia tiếng Việt


Seikanron (Tiếng Nhật: 征韓論, Tiếng Triều Tiên: 정한론 Chinh Hàn luận) là một cuộc xung đột chính trị lớn diễn ra ở Nhật Bản vào năm 1873 xoay quanh chính sách đối ngoại với Vương quốc Triều Tiên.

Saigō Takamori, thủ lĩnh phe chủ chiến cho rằng triều đình Nhật Bản phải có biện pháp cứng rắn với nhà Triều Tiên vì Hàn triều không nhận quốc thư và cũng không chịu tiếp kiến sứ thần của Thiên hoàng Minh Trị. Nhật Bản lúc bấy giờ đang xúc tiến bang giao với Hán Thành và muốn mở đường giao thương. Vin cớ rằng Hàn triều đã xúc phạm quốc thể, Saigō muốn lèo lái tình hình ngoại giao để gây hấn với Hán Thành hầu giải quyết căng thẳng nội bộ ở Nhật khi hàng ngàn samurai không có công ăn việc làm. Giới võ sĩ này đã bị giải thể trong một xã hội Nhật Bản mới với cuộc cải cách thời Minh Trị. Saigō, bản thân cũng là một samurai, muốn giảm thiểu nỗi bất mãn của võ sĩ Nhật vì đó cũng là mầm mống đe dọa triều đình Nhật Bản trên con đường duy tân.

Theo tài liệu chính thống, "Saigo tự mình tình nguyện đến Triều Tiên với tư cách sứ thần đặc biệt, cố làm mình bị ám sát để tạo cái cớ hợp lý, nếu cần đến, cho một cuộc trừng phạt bằng quân sự "[1], mặc dù những nhà sử học xét lại lập luận rằng lời nói của Saigo là một cố gắng để giành được sự ủng hộ của Itagaki[2], và rằng lời chỉ trích của Saigo sự khiêu khích của Minh Trị chống lại Triều Tiên năm 1876 gợi ý rằng Saigo đã luôn luôn "thiết lập một mối quan hệ chắc chắn"[3]. Trong bất kỳ trường hợp nào, các nhà lãnh đạo Nhật Bản phản đối mạnh mẽ lại kế hoạch này, một phần vì cân nhắc đến ngân sách, và một phần vì nhận ra sự yếu kém của Nhật Bản so với các nước phương Tây từ những gì họ chứng kiến trong khi tham gia phái đoàn Iwakura.

Trong khi các nhà sử học chính thống xem cuộc tranh luận này là ở vấn đề có nên xâm lược Triều Tiên hay không, sự khiêu khích chống lại Triều Tiên năm 1876 ủng hộ giả thuyết rằng phe Iwakura không bao giờ không đồng ý với tính đúng đắn của cuộc tấn công, và những nhà sử học xét lại xem Seikanron không phải là một cuộc tranh luận có làm việc đó hay không, mà là "khi nào làm" và "ai sẽ làm". Điều thứ nhất là vì những người trở về từ phái đoàn Iwakura tin rằng Nhật Bản quá yếu để thu hút được sự chú ý của quốc tế và cần tập trung vào các cải cách nội bộ, điều thứ hai là vì sự chia rẽ trong chính quyền giữa những người trông nom chính quyền và nhóm của Iwakura dẫn đến sự tranh giành quyền lực giữa họ (ví dụ như Okubo Toshimichi khi ấy không có một vị trí quyền lực thật sự nào, thấy rằng vị trí của mình bị lấy mất sau khi ông ra đi).

Quyết định cuối cùng là không có hành động gì chống lại Triều Tiên, và nhiều người thuộc phe chủ chiến bao gồm Saigo và Itagaki từ chức để phản đối. Saigo trở về thành phố quê nhà Kagoshima, mặc dù Saigo chưa bao giờ chính thức từ bỏ vị trí của mình trong đội thị vệ Hoàng cung. Một vài nhà sử học (chủ yếu là người theo quan điểm chính thống) cho rằng sự chia rẽ chính trị này mở đường cho Cuộc nổi loạn Saga năm 1874 và Chiến tranh Tây Nam năm 1877 do Saigo Takamori lãnh đạo. Mặc khác, Itagaki tham gia vào đảo chính trị tự do Aikoku Koto, và chống lại phe Iwakura bằng biện pháp hợp pháp.





  1. ^ Hunter, P.43.

  2. ^ Yates, P 145.

  3. ^ Inoue: Saigo Takamori zenshu III: 414-16.



  • Charles L. Yates, Saigo Takamori: The Man Behind the Myth. Kegan Paul International Limited (1995). ISBN 0-7103-0484

  • Kenneth B. Pyle, The Making of Modern Japan. Second Edition (1978). ISBN 0-669-20020-4

  • Janet E. Hunter, The Emergence of Modern Japan (1989) ISBN 0582-49407-9

  • Jansen, Marius B, The Making of Modern Japan. Cambridge: The Belknap Press of Harvard University Press, 2000.

  • Inoue Kiyoshi, Saigo Takamori zenshu (Japanese)

Comments

Popular posts from this blog

Nhậm Gia Huyên – Wikipedia tiếng Việt

Selina Ren sinh ngày 31 tháng 10 năm 1981 tại thành phố Đài Bắc, Đài Loan, là một thành viên của nhóm nhạc nữ Đài Loan mang tên S.H.E.




Ngày 8 tháng 8 năm 2000, nhà sản xuất HIM (HIM International Records) tổ chức cuộc thi "Universal 2000 talent and Beauty Girl contest" để chọn ra những nữ ca sĩ mới có thể quảng bá cho thương hiệu của họ. Có hơn 1000 thí sinh đã đăng ký dự thi, và sau những đợt chọn lọc liên tiếp, chỉ còn lại 7 thí sinh tham gia vào phần thi cuối cùng mang tên "The Cruel Stage". Theo như đúng luật thi, trong số 7 người cuối cùng chỉ được phép chọn ra một người thắng cuộc duy nhất. Thế nhưng, ban giám khảo đã chọn cả ba người thắng cuộc là Selina, Hebe và Ella. Với Selina, cô đến với cuộc thi bằng một sự tình cờ khi là người thế chỗ em gái mình vì cô em chưa đủ tuổi dự thi. Selina đã chinh phục ban giám khảo khi trình bày bài hát của nữ ca sĩ nổi tiếng Lý Mân "Before I fall in love". Sau đó, cô đã vượt qua khá dễ dàng các phần thi tiếp theo.


Louis V Joseph de Bourbon-Condé – Wikipedia tiếng Việt

Louis V Joseph de Bourbon-Condé
Hoàng thân Condé
Thông tin chungThê thiếp
Charlotte de Rohan-Soubise, Marie-Catherine de BrignoleHậu duệ
Louis VI Henri de Bourbon-Condé, Louise-Adélaïde de Bourbon-CondéThân phụ
Louis IV Henri de Bourbon-CondéThân mẫu
Caroline von Hessen-Rheinfels-RotenburgSinh
9 tháng 8 năm 1736
ParisMất
13 tháng 5 năm 1818
ChantillyLouis V Joseph de Bourbon-Condé là một quý tộc Pháp, hoàng thân của Condé, prince du sang, sinh 9 tháng 8 năm 1736 tại Paris, mất 13 tháng 5 năm 1818 tại Chantilly


Ông là con duy nhất của Louis Henry I và Landgravine Caroline of Hesse-Rotenburg. Khi còn trẻ ông cưới Charlotte-Godefried de Rohan-Soubise (1737-1760), con gái một người bạn vua Louis XV, Charles de Rohan-Soubise. Hai người có một con trai là Louis Henri Joseph và một con gái là Louise-Adélaide de Condé




Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…