Skip to main content

Sân vận động Olimpico – Wikipedia tiếng Việt

Stadio Olimpico, đặt ở Foro Italico, là một sân vận động ở Roma, Ý. Đây là sân nhà của đội tuyển Ý, cũng như của 2 câu lạc bộ S.S. Lazio và A.S.Roma. Sân được khánh thành vào năm 1937 và được nâng cấp lần gần nhất vào năm 2008, sân có sức chứa 72,200 chỗ ngồi. Sân được sử dụng ở Thế vận hội Mùa hè 1960, giải vô địch điền kinh thế giới vào năm 1987, World Cup 1990 và chung kết UEFA Champions League 2009.

Sân còn được gọi với lên khác như Stadio dei Marmi, hay "sân vận động cẩm thạch", sân được xây vào năm 1932 và được thiết kế bởi Enrico Del Debbio.


































































































































Mùa giải
Roma
Lazio
Danh hiệu của Roma
Danh hiệu của Lazio
1979/80
44,589
31,560
Coppa Italia

1980/81
51,103

Coppa Italia

1981/82
45,289



1982/83
54,510

Serie A

1983/84
52,793
46,908
Coppa Italia

1984/85
51,421
38,544


1985/86
50,151

Coppa Italia

1986/87
49,138



1987/88
42,755



1988/89
34,913
32,125


1989/90*
22,067
20,022


1990/91
43,570
36,371
Coppa Italia

1991/92
51,609
39,499


1992/93
50,306
49,105


1993/94
52,615
50,149


1994/95
56,356
48,715


1995/96
53,146
46,326


1996/97
50,557
38,699


1997/98
52,813
46,058

Coppa Italia
1998/99
54,309
53,184

Supercoppa Italiana
UEFA Cup Winners' Cup
1999/00
58,915
51,956

UEFA Super Cup
Serie A
Coppa Italia
2000/01
63,370
48,498
Serie A
Supercoppa Italiana
2001/02
59,402
42,684
Supercoppa Italiana

2002/03
57,160
44,129


2003/04
46,458
49,341

Coppa Italia
2004/05
49,631
37,516


2005/06
39,726
27,872


2006/07
38,689
25,048
Coppa Italia

2007/08
35,982
21,607
Supercoppa Italiana
Coppa Italia

2008/09
39,396
34,626

Coppa Italia




Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Dulce et Decorum Est – Wikipedia tiếng Việt

Dulce et Decorum est – là bài thơ của nhà thơ Anh Quốc Wilfred Owen viết năm 1917 và được công bố năm 1921, sau khi nhà thơ đã hy sinh tại một trận đánh vào năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bài thơ có 28 dòng. Đầu tiên, đây là một bức thư riêng nhưng sau Wilfred Owen đã quyết định công bố đến đông đảo bạn đọc.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những người lính trận mạc băng qua bùn lầy, khói lửa của chiến tranh trở về phía sau… Mệt mỏi và bị hơi độc tấn công… Một người trong số họ bị chết vì trúng khí độc… Khổ cuối là những lời kêu gọi chống chiến tranh. Tác giả dùng câu danh ngôn của đại thi hào Horace thời La Mã cổ đại: Dulce et decorum est/ pro patri mori (Được chết vì tổ quốc/ sung sướng và ngọt ngào thay). Bài thơ được viết bằng một tình cảm chân thành và chính điều này đã làm cho nó trở thành một trong những bài thơ chống chiến tranh nổi tiếng nhất.


Dulce et Decorum Est

Bent double, like old beggars under sacks,
Knock-kneed, coughing like hags, we cursed through …

PETN – Wikipedia tiếng Việt

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PETN ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.
Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]



Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl axetat, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.
Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.
Các thông số kỹ thuật:


PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc…