Skip to main content

Sân bay quốc tế O. R. Tambo – Wikipedia tiếng Việt

Sân bay quốc tế O. R. Tambo (IATA: JNB, ICAO: FAJS) là một sân bay ở gần thành phố Johannesburg, Gauteng, Nam Phi. Đây là sân bay hàng đầu Nam Phi, có số lượng hành khách nhiều nhất, năm 2007 đã phục vụ 19.440.000 lượt khách thông qua (tăng 12,1% so với năm trước)[1]. Đây là trung tâm hoạt động của hãng hàng không South African Airways (SAA).

Tên cũ là Sân bay quốc tế Johannesburg và tiếp đến là Sân bay quốc tế Jan Smuts (do đó mã ICAO là FAJS). Lần đổi tên đầu tiên vào năm 1994, sau đó ngày 27 tháng 10 năm 2006, sân bay được đổi tên như ngày nay[2].
Có 6 nhà ga ở sân bay này, nhưng chúng được chia thành 3 khu vực: nhà ga quốc tế, nhà ga nội địa và nhà ga quá cảnh.





Các thành phố quốc tế có tuyến bay với sân bay quốc tế O. R. Tambo

Domestic Destinations with direct air links






Hành khách[sửa | sửa mã nguồn]


Hãng hàng khôngCác điểm đếnNhà ga đi
Air Austral Saint-Denis de la Réunion A
Air Botswana Francistown, Gaborone, Kasane, Maun A
Air China Bắc Kinh-Thủ đô (bắt đầu từ ngày 19 Tháng 6 năm 2015)[3] A
Air France Paris–Charles de Gaulle A
Airlink Antananarivo, Beira, Bulawayo, Harare, Kasane, Lusaka, Manzini, Sân bay quốc tế Maseru, Maun, Nampula, Sân bay quốc tế Ndola, Pemba, Tete, Vilanculos A
Airlink Nelspruit, Phalaborwa, Pietermaritzburg, Polokwane, Skukuza, Umtata, Upington, Sân bay quốc tế Sishen B
Air Madagascar Antananarivo, Sân bay quốc tế Nosy Be A
Air Mauritius Mauritius B
Air Namibia Walvis Bay (bắt đầu từ ngày 29 Tháng 3 năm 2015),[4]Windhoek A
Air Seychelles Mahé A
Air Zimbabwe Harare, Victoria Falls A
Arik Air Lagos A
British Airways London–Heathrow A
British Airways
vận hành bởi Comair
Harare, Livingstone, Mauritius, Victoria Falls, Windhoek A
British Airways
vận hành bởi Comair
Cape Town, Durban, Port Elizabeth B
Cathay Pacific Hong Kong A
CemAir Lephalale, Margate, Plettenberg Bay, Sishen B
Compagnie Africaine d'Aviation[5] Kinshasa–N'djili, Lubumbashi B
Delta Air Lines Atlanta A
EgyptAir Cairo A
El Al Tel Aviv–Ben Gurion A
Emirates Dubai–International A
Ethiopian Airlines Addis Ababa A
Etihad Airways Abu Dhabi A
Fastjet Dar es Salaam A
flyafrica.com Bulawayo,[6]Lusaka (bắt đầu từ ngày 4 Tháng 5 năm 2015),[7]Windhoek[8] TBA
FlySafair Cape Town, George, Port Elizabeth B
Interair South Africa Dar es Salaam, Ndola A
Kenya Airways Nairobi–Jomo Kenyatta A
KLM Amsterdam A
Korongo Airlines Lubumbashi A
Kulula.com Cape Town, Durban, George, East London B
LAM Mozambique Airlines Beira, Inhambane, Maputo, Pemba, Quelimane, Tete, Vilanculos A
Lufthansa Frankfurt A
Malawian Airlines Blantyre, Lilongwe A
Mango Cape Town, Durban, George, Port Elizabeth, Zanzibar B
Qantas Sydney A
Qatar Airways Doha, Maputo A
RwandAir Kigali, Lusaka (bắt đầu từ ngày 27 Tháng 3 năm 2015)[9] A
Saudia Jeddah A
Skywise Airlines Cape Town B
Singapore Airlines SingaporeNote 1 A
South African Airways Abu Dhabi (bắt đầu từ ngày 29 Tháng 3 năm 2015),[10]Bắc Kinh-Thủ đô (kết thúc từ ngày 30 Tháng 3 năm 2015),[11]Frankfurt, Hong Kong, London–Heathrow, Mumbai (kết thúc từ ngày 28 Tháng 3 năm 2015),[12]Munich, New York–JFK, Perth, São Paulo–Guarulhos, Washington–Dulles A
South African Airways Abidjan, Accra, Blantyre, Brazzaville, Cape Town, Dakar, Dar es Salaam, Durban, East London, Entebbe, Harare, Kinshasa, Lagos, Luanda, Lilongwe, Livingstone, Lusaka, Maputo, Mauritius, Nairobi–Jomo Kenyatta, Ndola, Pointe Noire, Port Elizabeth, Victoria Falls, Windhoek B
South African Express Bloemfontein, Durban, East London, Gaborone, George, Hoedspruit, Kimberley, Lubumbashi, Nelspruit, Pietermaritzburg, Port Elizabeth, Richards Bay B
Swiss International Air Lines Zürich A
TAAG Angola Airlines Luanda A
Turkish Airlines Istanbul–AtatürkNote 1 A
Virgin Atlantic London–Heathrow A
Zimbabwe flyafrica.com Bulawayo, Harare, Victoria Falls A

^Note 1 Các chuyến bay này tiếp tục đến Cape Town. Tuy nhiên, các hãng này không có quyền chỉ chở khách giữa Johannesburg và Cape Town.


Hàng hóa[sửa | sửa mã nguồn]


Hãng hàng khôngCác điểm đến
BidAir Cargo Cape Town, Dar es Salaam, Durban, East London, George, Harare, Kigali, Livingstone, Mauritius, Maputo, Nairobi–Jomo Kenyatta, Port Elizabeth, Victoria Falls, Windhoek
Cargolux London–Stansted, Luxembourg, Nairobi–Jomo Kenyatta
Chapman Freeborn Entebbe
Emirates SkyCargo Dubai–Al Maktoum, Nairobi–Jomo Kenyatta
Ethiopian Airlines Cargo Addis Ababa
Etihad Crystal Cargo Abu Dhabi, Nairobi–Jomo Kenyatta
Imperial Air Cargo Bloemfontein, Cape Town, Durban, Port Elizabeth
KLM Cargo Amsterdam, Nairobi–Jomo Kenyatta
Lufthansa Cargo Frankfurt, Lagos, Nairobi–Jomo Kenyatta
Martinair Cargo / KLM Amsterdam
Nordic Global Airlines Liège
Qatar Airways Cargo Doha, Liège, Nairobi–Jomo Kenyatta, Oslo–Gardermoen
Saudia Cargo Amsterdam, Jeddah, Nairobi–Jomo Kenyatta
Silverback Cargo Freighters Kigali
Singapore Airlines Cargo Amsterdam, Chennai, Nairobi–Jomo Kenyatta, Singapore
South African Cargo Cape Town, Durban, Harare, Maputo, Port Elizabeth
Turkish Airlines Cargo Istanbul–Atatürk, Khartoum, Nairobi–Jomo Kenyatta
Uganda Air Cargo Entebbe
Wimbi Dira Airways Kinshasa



Bản mẫu:African Airports TOP 10


Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Nhậm Gia Huyên – Wikipedia tiếng Việt

Selina Ren sinh ngày 31 tháng 10 năm 1981 tại thành phố Đài Bắc, Đài Loan, là một thành viên của nhóm nhạc nữ Đài Loan mang tên S.H.E.




Ngày 8 tháng 8 năm 2000, nhà sản xuất HIM (HIM International Records) tổ chức cuộc thi "Universal 2000 talent and Beauty Girl contest" để chọn ra những nữ ca sĩ mới có thể quảng bá cho thương hiệu của họ. Có hơn 1000 thí sinh đã đăng ký dự thi, và sau những đợt chọn lọc liên tiếp, chỉ còn lại 7 thí sinh tham gia vào phần thi cuối cùng mang tên "The Cruel Stage". Theo như đúng luật thi, trong số 7 người cuối cùng chỉ được phép chọn ra một người thắng cuộc duy nhất. Thế nhưng, ban giám khảo đã chọn cả ba người thắng cuộc là Selina, Hebe và Ella. Với Selina, cô đến với cuộc thi bằng một sự tình cờ khi là người thế chỗ em gái mình vì cô em chưa đủ tuổi dự thi. Selina đã chinh phục ban giám khảo khi trình bày bài hát của nữ ca sĩ nổi tiếng Lý Mân "Before I fall in love". Sau đó, cô đã vượt qua khá dễ dàng các phần thi tiếp theo.


Lính tập – Wikipedia tiếng Việt

Lính tập là các đơn vị quân đội bản xứ do người Pháp tổ chức thành lập nhằm phụ trợ cho quân chính quy Pháp trong việc đánh dẹp, bảo vệ an ninh thời Pháp thuộc sau khi chiếm được Nam Kỳ, rồi Bắc Kỳ, nằm trong Quân đoàn bộ binh Bắc Kỳ.




Thời Pháp thuộc lính khố đỏ và lính khố xanh gọi chung là lính tập.
Lính khố đỏ (tiếng Pháp: tirailleurs indochinois hoặc milicien à ceinture rouge) là một lực lượng vũ trang của chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương dùng người bản xứ làm quân đội chính quy trong việc đánh dẹp. Lính khố đỏ đúng ra có ba hạng:

Lính khố đỏ Nam Kỳ (tiếng Pháp: tirailleurs annamites, tirailleurs cochinchinois hay tirailleurs saigonnais),
Lính khố đỏ Bắc Kỳ (tirailleurs tonkinois) và
Lính khố đỏ Cao Miên (tirailleurs cambodgiens).Danh từ "lính khổ đỏ" xuất phát từ quân phục của nhóm này gồm quần áo chẽn, nón dẹp (sau đổi nón chóp), và giải thắt lưng màu đỏ buộc ở bụng, đầu giải buông thõng ở bẹn giống như cái khố nên người dân Việt mới gọi là "khố đỏ" tuy đún…