Skip to main content

Sân bay Peretola – Wikipedia tiếng Việt

Sân bay Peretola

Aeroporto di firenze 01.JPG


Mã IATA
FLR
Mã ICAO
LIRQ
Vị trí
Độ cao
144 ft (44 m)
Tọa độ
43°48′36″B 11°12′14″Đ / 43,81°B 11,20389°Đ / 43.81000; 11.20389Tọa độ: 43°48′36″B 11°12′14″Đ / 43,81°B 11,20389°Đ / 43.81000; 11.20389
Thông tin chung
Kiểu sân bay
Công
Cơ quan quản lý
Aeroporto di Firenze
Các đường băng








Hướng
Chiều dài
Bề mặt
m
ft
05/23
1.716
5.633
Asphalt

Sân bay Peretola, Sân bay Florence (tiếng Ý: Aeroporto di Firenze) hay Sân bay Amerigo Vespucci (IATA: FLR, ICAO: LIRQ) là một sân bay ở gần Firenze, Ý, nhưng được quản lý của Sesto Fiorentino. Đây là một trong hai sân bay chính ở vùng Toscana, sân bay kia là Sân bay quốc tế Galileo Galilei gần Pisa.

Năm 1990, sân bay đã được đặt tên theo Amerigo Vespucci.



Hãng hàng khôngCác điểm đến
Air France cung ứng bởi Cityjet Paris-Charles de Gaulle
Air France cung ứng bởi Brit Air Lyon
Alitalia Rome-Fiumicino
Austrian Airlines cung ứng bởi Austrian Arrows Vienna
Belle Air Tirana
Brussels Airlines Brussels
Carpatair Timişoara
Cimber Air Copenhagen
Elbafly Elba
Flybaboo Geneva
Lufthansa Regional cung ứng bởi Lufthansa CityLine Frankfurt
Lufthansa Regional cung ứng bởi Air Dolomiti Munich
Meridiana Amsterdam, Barcelona, Cagliari, Catania, London-Gatwick, Madrid, Olbia, Palermo [bắt đầu từJune 1]
Swiss International Air Lines Zurich



Phương tiện liên quan tới Sân bay Peretola tại Wikimedia Commons


  • Sân bay Florence (Trang mạng chính thức)

  • Florence Airport by About Florence Information and details about airport transfer services.

  • Coave Florence Airport Transfers Airport transfer service.

  • Dữ liệu hàng không thế giới thông tin về sân bay cho LIRQ

Comments

Popular posts from this blog

Nhậm Gia Huyên – Wikipedia tiếng Việt

Selina Ren sinh ngày 31 tháng 10 năm 1981 tại thành phố Đài Bắc, Đài Loan, là một thành viên của nhóm nhạc nữ Đài Loan mang tên S.H.E.




Ngày 8 tháng 8 năm 2000, nhà sản xuất HIM (HIM International Records) tổ chức cuộc thi "Universal 2000 talent and Beauty Girl contest" để chọn ra những nữ ca sĩ mới có thể quảng bá cho thương hiệu của họ. Có hơn 1000 thí sinh đã đăng ký dự thi, và sau những đợt chọn lọc liên tiếp, chỉ còn lại 7 thí sinh tham gia vào phần thi cuối cùng mang tên "The Cruel Stage". Theo như đúng luật thi, trong số 7 người cuối cùng chỉ được phép chọn ra một người thắng cuộc duy nhất. Thế nhưng, ban giám khảo đã chọn cả ba người thắng cuộc là Selina, Hebe và Ella. Với Selina, cô đến với cuộc thi bằng một sự tình cờ khi là người thế chỗ em gái mình vì cô em chưa đủ tuổi dự thi. Selina đã chinh phục ban giám khảo khi trình bày bài hát của nữ ca sĩ nổi tiếng Lý Mân "Before I fall in love". Sau đó, cô đã vượt qua khá dễ dàng các phần thi tiếp theo.


Louis V Joseph de Bourbon-Condé – Wikipedia tiếng Việt

Louis V Joseph de Bourbon-Condé
Hoàng thân Condé
Thông tin chungThê thiếp
Charlotte de Rohan-Soubise, Marie-Catherine de BrignoleHậu duệ
Louis VI Henri de Bourbon-Condé, Louise-Adélaïde de Bourbon-CondéThân phụ
Louis IV Henri de Bourbon-CondéThân mẫu
Caroline von Hessen-Rheinfels-RotenburgSinh
9 tháng 8 năm 1736
ParisMất
13 tháng 5 năm 1818
ChantillyLouis V Joseph de Bourbon-Condé là một quý tộc Pháp, hoàng thân của Condé, prince du sang, sinh 9 tháng 8 năm 1736 tại Paris, mất 13 tháng 5 năm 1818 tại Chantilly


Ông là con duy nhất của Louis Henry I và Landgravine Caroline of Hesse-Rotenburg. Khi còn trẻ ông cưới Charlotte-Godefried de Rohan-Soubise (1737-1760), con gái một người bạn vua Louis XV, Charles de Rohan-Soubise. Hai người có một con trai là Louis Henri Joseph và một con gái là Louise-Adélaide de Condé




Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…