Skip to main content

Ray Charles – Wikipedia tiếng Việt

Ray Charles

Ray Charles FIJM 2003.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh
Ray Charles Robinson
Nghệ danh
Brother Ray, The Genius
Sinh
(1930-09-23)23 tháng 9, 1930
Albany, Georgia, Hoa Kỳ
Nguyên quán
Greenville, Florida, Hoa Kỳ
Mất
10 tháng 6, 2004(2004-06-10) (73 tuổi)
Beverly Hills, California, Hoa Kỳ
Thể loại
Rhythm and blues, soul, blues, jazz, nhạc đồng quê, pop
Nghề nghiệp
Ca sĩ, nhạc sĩ, phối khí, trưởng nhóm
Nhạc cụ
hát, piano/nhạc cụ bàn phím, alto saxophone
Năm hoạt động
1947–2004
Hãng đĩa
Atlantic, ABC, Warner Bros., Swingtime
Hợp tác với
The Raelettes, Quincy Jones, Betty Carter
Website
www.raycharles.com

Ray Charles Robinson (23 tháng 9 1930 - 10 tháng 6 2004) thường được gọi với cái tên Ray Charles, là một nghệ sĩ, ca sĩ mù người Mỹ. Ông đã mang tới những giai điệu tâm hồn cho nhạc đồng quê và nhạc pop thông qua nhạc phẩm Modern Sounds cũng như bản tái phẩm ca khúc "America the Beautiful" mà Ed Bradley của 60 Minutes gọi là "phiên bản định nghĩa của ca khúc, một bài quốc ca Hoa Kỳ, một tác phẩm kinh điển - kinh điển như người đàn ông thể hiện nó". Ông cũng xuất hiện trong bộ phim The Blues Brothers[1]. Frank Sinatra gọi ông là "thiên tài thực sự duy nhất trong nghề"[1][2].

Năm 2004, tạp chí Rolling Stone bầu Ray Charles ở vị trí thứ mười trong danh sách 100 nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại[3] và bầu ông ở vị trí thứ hai trong danh sách 100 ca sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại vào tháng 11 năm 2008[4][5].





Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Dulce et Decorum Est – Wikipedia tiếng Việt

Dulce et Decorum est – là bài thơ của nhà thơ Anh Quốc Wilfred Owen viết năm 1917 và được công bố năm 1921, sau khi nhà thơ đã hy sinh tại một trận đánh vào năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bài thơ có 28 dòng. Đầu tiên, đây là một bức thư riêng nhưng sau Wilfred Owen đã quyết định công bố đến đông đảo bạn đọc.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những người lính trận mạc băng qua bùn lầy, khói lửa của chiến tranh trở về phía sau… Mệt mỏi và bị hơi độc tấn công… Một người trong số họ bị chết vì trúng khí độc… Khổ cuối là những lời kêu gọi chống chiến tranh. Tác giả dùng câu danh ngôn của đại thi hào Horace thời La Mã cổ đại: Dulce et decorum est/ pro patri mori (Được chết vì tổ quốc/ sung sướng và ngọt ngào thay). Bài thơ được viết bằng một tình cảm chân thành và chính điều này đã làm cho nó trở thành một trong những bài thơ chống chiến tranh nổi tiếng nhất.


Dulce et Decorum Est

Bent double, like old beggars under sacks,
Knock-kneed, coughing like hags, we cursed through …

PETN – Wikipedia tiếng Việt

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PETN ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.
Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]



Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl axetat, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.
Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.
Các thông số kỹ thuật:


PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc…