Skip to main content

Loropéni (thị trấn) – Wikipedia tiếng Việt


Loropéni là một thị trấn-chợ ở miền nam Burkina Faso, nằm ở phía tây Gaoua. Các đặc trưng của địa phương này bao gồm các phế tích đá trước khi người châu Âu đặt chân tới đây mà người ta hiện biết rất ít về chúng. Một thuyết cho rằng chúng từng là nơi ở của nô lệ cho vua Lobi từ thời cổ đại. Các phế tích này đã được liệt kê trong danh sách di sản thế giới của UNESCO kể từ năm 2009.



Vùng được coi là thuộc khu vực di sản thế giới này có diện tích 1,113 ha (11.130 m²) với vùng đệm 278,4 ha, là di sản thế giới đầu tiên được mêu tả tại quốc gia này, với các tường đá gây ấn tượng mạnh mẽ của nó là khu vực được bảo tồn tốt nhất trong số 10 pháo đài tại khu vực Lobi và là một phần của nhóm lớn hơn gồm 100 hàng rào đá mang theo mình lời chứng thực cho quyền lực của thương mại vàng xuyên Sahara. Nằm gần biên giới với Côte d'Ivoire, Ghana và Togo, phế tích này gần đây đã được chứng minh là có niên đại ít nhất 1.000 năm. Khu định cư được người Lohron hay người Koulango chiếm lĩnh, những người kiểm soát việc chiết và chuyển đổi vàng trong khu vực khi công việc này đạt tới đỉnh cao từ thế kỷ 14 tới thế kỷ 17. Nhiều điều thần bí bao quanh khu vực này mà phần lớn trong chúng cần được khai quật. Khu định cư này dường như đã bị bỏ hoang trong một số thời kỳ nhất định trong lịch sử lâu đời của nó. Khu di sản, bị bỏ rơi lần cuối vào đầu thế kỷ 19, được dự kiến sẽ mang lại nhiều thông tin hơn nữa.





Tọa độ: 10°18′B 3°32′T / 10,3°B 3,533°T / 10.300; -3.533








Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Dulce et Decorum Est – Wikipedia tiếng Việt

Dulce et Decorum est – là bài thơ của nhà thơ Anh Quốc Wilfred Owen viết năm 1917 và được công bố năm 1921, sau khi nhà thơ đã hy sinh tại một trận đánh vào năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bài thơ có 28 dòng. Đầu tiên, đây là một bức thư riêng nhưng sau Wilfred Owen đã quyết định công bố đến đông đảo bạn đọc.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những người lính trận mạc băng qua bùn lầy, khói lửa của chiến tranh trở về phía sau… Mệt mỏi và bị hơi độc tấn công… Một người trong số họ bị chết vì trúng khí độc… Khổ cuối là những lời kêu gọi chống chiến tranh. Tác giả dùng câu danh ngôn của đại thi hào Horace thời La Mã cổ đại: Dulce et decorum est/ pro patri mori (Được chết vì tổ quốc/ sung sướng và ngọt ngào thay). Bài thơ được viết bằng một tình cảm chân thành và chính điều này đã làm cho nó trở thành một trong những bài thơ chống chiến tranh nổi tiếng nhất.


Dulce et Decorum Est

Bent double, like old beggars under sacks,
Knock-kneed, coughing like hags, we cursed through …

PETN – Wikipedia tiếng Việt

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PETN ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.
Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]



Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl axetat, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.
Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.
Các thông số kỹ thuật:


PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc…