Skip to main content

Júlio César Soares Espíndola – Wikipedia tiếng Việt

Júlio César

Júlio César FC Internazionale.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ
Júlio César Soares de Espíndola
Ngày sinh
3 tháng 9, 1979 (39 tuổi)
Nơi sinh
Duque de Caxias, Brasil
Chiều cao
1,88 m (6 ft 2 in)
Vị trí
Thủ môn
Thông tin về CLB

CLB hiện nay


Benfica
CLB trẻ

Grajau CC
CLB chuyên nghiệp*
Năm
Đội

ST

(BT)
1998–2005
Flamengo

130

(0)
2005–2012
Internazionale

228

(0)
2005
→ Chievo (mượn)

0

(0)
2012–2014
Queens Park Rangers

24

(0)
2014
→ Toronto FC (mượn)

7

(0)
2014–
Benfica

29

(0)
Đội tuyển quốc gia
2004–2014
Brasil

87

(0)

  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 29 tháng 9 năm 2015.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).


‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 12 tháng 7 năm 2014

Júlio César Soares de Espíndola (sinh ngày 3 tháng 9 năm 1979), tên thường gọi Júlio César, là một cầu thủ bóng đá Brasil chơi ở vị trí thủ môn cho đội Benfica. Anh cũng chơi cho đội tuyển Brasil trong 87 trận và có mặt tại Giải bóng đá vô địch thế giới 2010 và 2014.

Anh đã dành 7 năm sự nghiệp của mình để chơi cho đội bóng Ý Inter Milan, nơi anh đã có 7 chức vô địch Serie A, UEFA Champions League 2009-10 và FIFA Club World Cup 2010. Anh đã giành danh hiệu Thủ môn Serie A xuất sắc nhất năm vào các năm 2009 và 2010 và được đề cử vào danh sách Quả bóng vàng châu Âu 2009.





Sinh ở Rio de Janeiro, Brasil, César đã bắt đầu sự nghiệp tại đội bóng địa phương Flamengo, và đã chơi trong 6 năm. Anh đã bắt đầu chơi bóng đá trong nhà tại Grajau Country Club, một câu lạc bộ địa phương nằm ở Grajau (ngoại ô Rio de Janeiro), nơi anh trải qua thời niên thiếu.

Doflamingo là một nhân vật trong bộ mâng Onepiece đã ăn trái ác quỷ ito ito nomi


Inter Milan[sửa | sửa mã nguồn]


Tháng 5 năm 2005, César ký hợp đồng 3 năm với Inter Milan,bản hợp đồng trị giá 2,45 triệu euro.

Ngay sau khi ký hợp đồng với Inter, anh đã bị đem cho CLB Chievo Verona mượn. Anh trở về Inter vào mùa 2005-2006. Lúc đầu anh chỉ là thủ môn dự bị cho Francesco Toldo, sau đó càng ngày càng chứng tỏ được mình và trở thành thủ môn số 1.

Mùa giải 2006-2007, Roberto Mancini - huấn luyện viên của Inter Milan lúc đó - biến anh thành thủ môn số một và César chứng minh là anh xứng đáng nhận được điều đó. Anh có thể cản phá thành công hai quả penalty trong trận gặp Ascoli Calcio 1898 và A.C. Siena. Anh là bức tường vững chãi của đội trong suốt mùa giải.Inter Milan kết thúc Serie A ở vị trí thứ 3 chỉ sau Juventus và đội bóng cùng thành phố A.C. Milan

Mùa giải 2007-2008, Julio Cesar vẫn là lựa chọn số một cho vị trí khung gỗ. Anh có danh hiệu thứ ba của mình từ khi đến Ý. Ngày 25/8/2008, Inter vô địch Siêu cúp Ý sau khi chiến thắng A.S. Roma 8-7 trên chấm phạt đền,thủ môn người Brasil cứu được quả penalty thứ 8 của Juan, mang về chức vô địch cho Inter.

Mùa giải 2008-2009, anh giành được Scudetto thứ 4 liên tiếp. Anh được đề cử vào danh sách 30 ứng cử viên cho danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu vào năm 2009.

Mùa giải 2009-10, anh cùng Inter giành cú ăn ba lịch sử khi vô địch Serie A, Coppa Italia và Champions League.Cesar là một nhân tố quan trọng để Inter làm được điều này,và anh đã giành được danh hiệu Thủ môn xuất sắc nhất năm của Serie A và Thủ môn xuất sắc nhất năm của UEFA.

Ở đầu mùa giải 2010-2011, Cesar đổi số áo của mình từ 12 sang số áo bỏ trống là 1.Inter giành được Siêu cúp Ý, FIFA Club World Cup nhưng thất bại trong việc bảo vệ danh hiệu Serie A và UEFA Champions League.

Ngày 1 tháng 10 năm 2011, anh đánh dấu trận đấu thứ 200 của mình tại Serie A khi thua Napoli 3-0.

Ngày 6 tháng 5 năm 2012,ở trận derby thành Milan với A.C. Milan, anh đánh dấu trận thứ 300 ra sân trong màu áo Inter,anh mặc một chiếc áo có dòng chữ 300 trận,300 chuyện,kết quả Inter thắng 4-2

Ngày 31 tháng 7 năm 2012, Cesar tuyên bố ý định rời Inter, anh nói:"Tôi đã có bảy năm thật tuyệt vời với rất nhiều thành công, nhưng, trong vài ngày tới, chuyến hành trình của tôi trong màu áo Inter sẽ kết thúc." "Tôi muốn gửi lời cảm ơn đến tất cả người hâm mộ vì những gì mà các bạn đã dành cho tôi, và hy vọng các bạn sẽ được tận hưởng thêm nhiều thành công trong tương lai."[1]


QPR[sửa | sửa mã nguồn]


Ngày 29 tháng 8 năm 2012,Julio Cesar chính thức ký hợp đồng 4 năm với câu lạc bộ Queens Park Rangers F.C. ở Giải bóng đá Ngoại hạng Anh. Anh có trận ra mắt trong trận hòa 0-0 với Chelsea vào ngày 15/9. Anh nhanh chóng trở thành thủ môn số 1 của đội bóng.

Ngày 28 tháng 4 năm 2013, QPR đứng cuối bảng xếp hạng và phải xuống chơi ở giải Football League Championship. Cesar đã chơi rất hay trong mùa và được gọi trở lại đội tuyển Brasil bởi huấn luyện viên mới Luiz Felipe Scolari.

Trong vòng chung kết World Cup 2014, sau trận thua kỷ lục 1-7 trước đội tuyển Đức, Júlio César và David Luiz đã gửi lời xin lỗi đến người dân Brazil.[2][3] Sau kì World Cup đáng thất vọng của Brasil, Júlio César đã quyết định giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế trong màu áo đội tuyển Brasil sau 10 năm gắn bó.



Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]


Số liệu thống kê chính xác tới 30 tháng 9 năm 2015[4][5][6][7][8][9]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]


Số liệu thống kê chính xác tới 8 tháng 7 năm 2014[11][12][13]




































Đội tuyển quốc giaCâu lạc bộNămTrậnBàn
Brasil
Flamengo
200490
Chievo
2004–0510
Inter Milan
2005–0610
2006–0720
2007–08110
2008–09150
2009–10140
2010–1170
2011–1240
QPR
2012–13100
2013–1410
Toronto FC
2014100
Tổng cộng870

Inter Milan

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]


Brasil

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]









Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Dulce et Decorum Est – Wikipedia tiếng Việt

Dulce et Decorum est – là bài thơ của nhà thơ Anh Quốc Wilfred Owen viết năm 1917 và được công bố năm 1921, sau khi nhà thơ đã hy sinh tại một trận đánh vào năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bài thơ có 28 dòng. Đầu tiên, đây là một bức thư riêng nhưng sau Wilfred Owen đã quyết định công bố đến đông đảo bạn đọc.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những người lính trận mạc băng qua bùn lầy, khói lửa của chiến tranh trở về phía sau… Mệt mỏi và bị hơi độc tấn công… Một người trong số họ bị chết vì trúng khí độc… Khổ cuối là những lời kêu gọi chống chiến tranh. Tác giả dùng câu danh ngôn của đại thi hào Horace thời La Mã cổ đại: Dulce et decorum est/ pro patri mori (Được chết vì tổ quốc/ sung sướng và ngọt ngào thay). Bài thơ được viết bằng một tình cảm chân thành và chính điều này đã làm cho nó trở thành một trong những bài thơ chống chiến tranh nổi tiếng nhất.


Dulce et Decorum Est

Bent double, like old beggars under sacks,
Knock-kneed, coughing like hags, we cursed through …

PETN – Wikipedia tiếng Việt

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PETN ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.
Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]



Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl axetat, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.
Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.
Các thông số kỹ thuật:


PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc…