Skip to main content

Hạ viện Pháp – Wikipedia tiếng Việt


Quốc hội Pháp (tiếng Pháp: Assemblée nationale France) còn được gọi là hạ viện, cơ quan cấu thành Nghị viện Pháp trong Đệ ngũ Cộng hòa. Trụ sở đặt tại điện Bourbon. Viện còn lại là Thượng viện. Nghị sĩ trong Quốc hội còn được gọi là đại biểu (députés).

Khác với Thượng viện, hạ nghị viện có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm để lật đổ Chính phủ. Lần cuối mà hạ nghị viện dùng quyền này là vào ngày 19.02.2015 để lật đổ chính quyền của thủ tướng Manuel Valls, nhưng thất bại vì chỉ được 234 trong khi cần 289 phiếu. Việc bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ chỉ thành công có một lần trong suốt lịch sử 57 năm đệ ngũ cộng hòa Pháp, đó là vào năm 1962, chống lại chính quyền của Georges Pompidou[1].

Quốc hội khóa XIV (2012) có 577 đại biểu, được bầu trong cuộc bầu cử Lập pháp năm 2012, bầu cử phổ thông đầu phiếu theo hệ thống 2 vòng với nhiệm kỳ 5 năm. Khối Xã hội hiện chiếm đa số trong Quốc hội.

Chủ tịch Quốc hội là Claude Bartolone từ 26/6/2012.





Quốc hội Pháp gắn liền với nước Pháp trong gần 2 thế kỷ với các nguyên tắc dân chủ và trải qua nhiều biến cố khác nhau.

Chính trị Pháp từ thời kỳ 3 giai cấp (1789) đã cử đại diện thể hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, các nguyên tắc bổ nhiệm và quyền hạn được thay đổi theo thời gian, trong khoảng thời gian không có Quốc hội nền dân chủ thường bị suy giảm, với nhiều tên gọi khác nhau trong các thời gian khác nhau. Quốc hội được thành lập năm 1789 cử các đại diện tham dự, sau đó tái lập từ giai đoạn 1848-1946 với vị trí đơn viện. Từ năm 1958 với bản Hiến pháp Đệ ngũ Cộng hòa tái lập lưỡng viện phân quyền.



Quốc hội Pháp có quyền hạn:


  • Tuyên bố chiến tranh và sử dụng lực lượng vũ trang can thiệp tại nước ngoài.

  • Mở rộng phiên họp thêm tối đa 12 ngày.

  • Tu chính Hiến pháp.

Quốc hội thông qua và đề xuất luật với Thượng viện. Nếu văn bản luật được Chính phủ đệ trình lên thì được gọi là dự thảo, và được gọi là luật đề xuất nếu do cơ quan Lập pháp đề xuất. Trong trường hợp dự thảo hoặc luật đề xuất bị bác bỏ tại Thượng viện, thì sẽ đưa lại Quốc hội để sửa đổi. Trong trường hợp do có ý kiến khác nhau giữa 2 viện mà sau 2 lần xem xét, thảo luận tại mỗi viện mà dự thảo không được thông qua hoặc trong trường hợp mỗi viện xem xét một lần mà Chính phủ tuyên bố tính cấp thiết phải ban hành thì Thủ tướng có quyền đề nghị một Ủy ban hỗn hợp có thành phần ngang số giữa 2 viện chịu trách nhiệm soạn thảo, đề xuất 1 văn bản về các quy định vẫn còn ý kiến khác nhau.

Văn bản do Ủy ban hỗn hợp soạn thảo có thể được Chính phủ trình 2 viện phê duyệt. Mọi sửa đổi bổ sung đều không được chấp thuận nếu có sự đồng ý của Chính phủ.


Mối quan hệ với ngạch Hành pháp[sửa | sửa mã nguồn]


Giải thể[sửa | sửa mã nguồn]


Sau khi tham khảo ý kiến của Thủ tướng, chủ tịch 2 viện, Tổng thống có quyền giải tán Quốc hội, nhưng không được giải tán Quốc hội một lần nữa trong năm tiếp sau tổng tuyển cử.

Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức trong thời hạn sớm nhất là 20 ngày, muộn nhất là 40 ngày kể từ ngày giải tán Quốc hội.

Từ năm 1958 tới tháng 12/2012 đã có 5 cuộc giải tán Quốc hội.


  1. Charles de Gaulle giải tán Quốc hội lần đầu tiên ngày 10/10/1962. Do bất đồng ý kiến với Thủ tướng Georges Pompidou

  2. Charles de Gaulle giải tán Quốc hội lần thứ 2 ngày 30/5/1968 trong cuộc khủng hoảng tháng 5/1968.

  3. François Mitterrand giải tán Quốc hội ngày 22/5/1981 do Đảng ông không nắm được quyền kiểm soát Quốc hội.

  4. François Mitterrand giải tán Quốc hội ngày 14/5/1988 cùng với lý do như năm 1981 sau khi ông được tái đắc cử.

  5. Jacques Chirac giải tán Quốc hội ngày 21/4/1997.

Thông điệp[sửa | sửa mã nguồn]


Tổng thống quan hệ với Quốc hội của Nghị viện bằng các thông điệp đọc trước Quốc hội và Nghị viện, Nghị viện không thảo luận về các thông điệp của Tổng thống.

Nếu thông điệp của Tổng thống được đưa ra trong thời gian Nghị viện không họp, thì Nghị viện phải triệu tập một phiên họp đặc biệt để nghe thông điệp của Tổng thống.


Quan hệ với Chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]


Như Nghị viện, Quốc hội cũng kiểm soát chính sách của Chính phủ. Có quyền hạn lớn hơn Thượng viện trong vấn đề bỏ phiếu bất tín nhiệm, kiến nghị chỉ trích, và Chính phủ có trách nhiệm giải thích đồng thời cam kết bằng văn bản. Thực tế phần lớn Quốc hội đều thảo thuận với Chính phủ để giải quyết các vấn đề.

Thành viên Chính phủ có quyền được vào Quốc hội để bảo vệ văn bản và chính sách của mình, ghế được đặt ở khu vực cuối cùng của đài bán nguyệt trong Quốc hội.


Bỏ phiếu tín nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]


Quốc hội xem xét trách nhiệm của Chính phủ qua bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ. Thủ tục bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ chỉ được chấp nhận khi có chữ ký của ít nhất 10% số thành viên Quốc hội. Việc bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ chỉ được tổ chức sau 48 giờ kể từ lúc trình kiến nghị. Khi kiểm phiếu, chỉ cần tính các phiếu thuận không tín nhiệm Chính phủ và việc bất tín nhiệm Chính phủ được thông qua khi đạt đa số phiếu của các thành viên của Quốc hội. Trong trường hợp một kỳ họp thường lệ của Quốc hội, một thành viên Nghị viện không thể đứng tên đề xuất quá ba kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ và, trong kỳ họp bất thường của Quốc hội, thì không thể quá một kiến nghị bỏ phiếbất tín nhiệm Chính phủ.

Trong trường hợp Hạ viện bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ hoặc không phê duyệt chương trình hành động hoặc tuyên bố chính sách chung của Chính phủ, Thủ tướng phải đệ đơn từ chức của Chính phủ lên Tổng thống.

Kể từ năm 1958 tới tháng 4/2014 đã có 34 cuộc bỏ phiếu tín nhiệm.


Chất vấn[sửa | sửa mã nguồn]


Đại biểu Quốc hội có thể chất vấn thành viên Chính phủ bằng nhiều cách.

Câu hỏi bằng văn bản diễn ra ngoài phiên họp, các câu hỏi và trả lới được công bố công khai trên công báo.

Câu hỏi trực tiếp bằng lời nói diễn ra trong phiên họp, có những câu hỏi không cần thảo luận trước, và các câu trả lời thường được trả lời trong phiên họp hoặc sẽ được trả lời bằng văn bản công khai trên công báo.


Phương pháp kiểm soát[sửa | sửa mã nguồn]


Nghị sĩ có thể thành lập 1 Ủy ban điều tra, Ủy ban chịu trách nhiệm điều tra các vấn đề ảnh hưởng mang tính chất nghiêm trọng và ảnh hưởng sâu rộng tới công chúng. Ủy ban được giới hạn trong một thời gian nhất định và bao gồm các phiên điều trần, các Ủy ban không thường xuyên khác với các Ủy ban cố định thường trực.

Ngoài ra Ủy ban còn có nhiệm vụ thu thập thông tin và sự kiện về việc quản lý các dịch vụ công, công ty quốc gia, để trình lên phiên họp của Ủy ban. Đây là phương thức kiểm soát Chính phủ của Quốc hội.

Ngoài ra còn có các Ủy ban giám sát riêng biệt thường trực, Ủy ban Tài chính chịu trách nhiệm kiểm soát ngân sách quốc gia, Tòa Thẩm kế có nhiệm vụ giúp Quốc hội giám sát việc thực hiện pháp lệnh về ngân sách và tài chính an sinh xã hội.

Hội đồng Hiến pháp chịu trách nhiệm tu chính và giám sát các pháp lệnh của Chính phủ, Nghị viện có phù hợp với Hiến định không, nếu không phù hợp Hội đồng có thể yêu các bác bỏ.



Tổ chức phiên họp[sửa | sửa mã nguồn]


Có 3 kiểu phiên họp được tổ chức tại Quốc hội:


  • Phiên họp thường kỳ từ tháng 10-tháng 6. Có 2 khóa thường kỳ trong 3 tháng mỗi năm (tương ứng 2/10-20/12 và từ 2/4-90/6 còn được gọi phiên họp mùa đông và phiên họp mùa hè). Mỗi phiên họp không quá 120 ngày.

  • Phiên họp đặc biệt do Tổng thống triệu tập và do Thủ tướng yêu cầu, do đa số đại biểu Quốc hội và tối đa là 12 ngày tính từ khi khai mạc.

  • Phiên họp chung được tổ chức từ 2 viện để nghe thông điệp Tổng thống hoặc được họp ngay sau khi bị yêu cầu giải tán theo yêu cầu của Tổng thống.

Lịch định kỳ được chia thành 4 chu kỳ tuần:


  • 2 tuần kiểm tra các văn bản của Chính phủ.

  • 1 tuần để xem xét các dự thảo luật và các luật đề xuất của Chính phủ và Nghị viện

  • 1 tuần để kiểm soát Chính phủ.

Phiên họp[sửa | sửa mã nguồn]


Chương trình nghị sự được thiết lập bởi Hội nghị Đoàn Chủ tịch Quốc hội. Các cuộc tranh luận được tổ chức thành các phiên họp.

Chương trình Nghị sự thảo luận với Bộ phụ trách quan hệ Nghị viện. Việc trao đổi là bắt buộc, để thuận lợi cho việc chất vấn các thành viên của Chính phủ.

Các phiên họp được tổ chức công khái, trực tiếp bằng camera (không được áp dung triệt để cho Đệ ngũ Cộng hòa). Có thể tham dự phiên tranh luận bằng lời mới của một đại biểu. Báo cáo tổng hợp được đăng trên Công báo.

Đại biểu được phân vị trí cố định theo Đảng phái, hoặc theo chính sách theo đuổi như cánh tả hoặc cánh hữu.



Quốc hội gồm Đoàn Chủ tịch, Ủy ban Thường trực và đại biểu các đảng.

Đoàn Chủ tịch thường bao gồm 22 người gồm Chủ tịch, 6 Phó Chủ tịch Quốc hội, 3 viên tài vụ và 12 thư ký.

Ủy ban Thường trực gồm 9 Ủy ban (tới 2013)


Đại biểu Quốc hội tính tới ngày 10/1/2015.







Comments

Popular posts from this blog

Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…

Dulce et Decorum Est – Wikipedia tiếng Việt

Dulce et Decorum est – là bài thơ của nhà thơ Anh Quốc Wilfred Owen viết năm 1917 và được công bố năm 1921, sau khi nhà thơ đã hy sinh tại một trận đánh vào năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Bài thơ có 28 dòng. Đầu tiên, đây là một bức thư riêng nhưng sau Wilfred Owen đã quyết định công bố đến đông đảo bạn đọc.
Bài thơ bắt đầu bằng hình ảnh những người lính trận mạc băng qua bùn lầy, khói lửa của chiến tranh trở về phía sau… Mệt mỏi và bị hơi độc tấn công… Một người trong số họ bị chết vì trúng khí độc… Khổ cuối là những lời kêu gọi chống chiến tranh. Tác giả dùng câu danh ngôn của đại thi hào Horace thời La Mã cổ đại: Dulce et decorum est/ pro patri mori (Được chết vì tổ quốc/ sung sướng và ngọt ngào thay). Bài thơ được viết bằng một tình cảm chân thành và chính điều này đã làm cho nó trở thành một trong những bài thơ chống chiến tranh nổi tiếng nhất.


Dulce et Decorum Est

Bent double, like old beggars under sacks,
Knock-kneed, coughing like hags, we cursed through …

PETN – Wikipedia tiếng Việt

PETN (pentaerythritol tetranitrat, tên thường gọi: penthrit; công thức hóa học: C(CH2ONO2)4) là một trong số những chất nổ mạnh nhất đã biết, nó nhậy nổ ma sát và nhậy nổ chấn động hơn TNT, không bao giờ sử dụng một mình làm thuốc dẫn nổ. PETN ban đầu được dùng làm thuốc dẫn nổ và thuốc nổ chính của đạn nhỏ, nay nó được dùng làm thuốc nổ sau trong kíp nổ, được dùng làm thuốc lõi của dây truyền nổ.
Trong dược phẩm, PETN được dùng làm thuốc dãn mạch như glyceryl trinitrat, "lentonitrat", là PETN nguyên chất.[1]



Là một chất hóa học bền. Bảo quản vận chuyển dễ hơn RDX. Tan mạnh trong methyl axetat, có thể phân hủy trong acetone, tan một ít trong ethanol và benzene.
Tốc độ truyền nổ của PETN khi mật độ 1,7 g/cm³ là 8.400 m/s. Mật độ tối đa của tinh thể khoảng 1,773 g/cm³, chảy ở 141 °C.
Các thông số kỹ thuật:


PETN không phải là một chất có sẵn trong tự nhiên, nên nó ảnh hưởng không tốt với môi trường. PETN bị phân hủy bởi vi khuẩn, khi nó thải ra từ phân hay nước tiểu chưa xử lý, hoặc…