Skip to main content

Cỏ băng chiểu – Wikipedia tiếng Việt

Cỏ băng chiểu (danh pháp khoa học: Scheuchzeria palustris) là một loài thực vật một lá mầm[1], thuộc chi đơn loài Scheuchzeria[2], họ đơn chi Scheuchzeriaceae trong bộ Trạch tả (Alismantales).

Cỏ băng chiểu là một loại cây thân thảo sinh sống trong khu vực đầm lầy nước lạnh vùng ôn đới và hàn đới Bắc bán cầu, với một số tác giả coi là chia ra thành 2 phân loài - gồm cỏ băng chiểu châu Âu và cỏ băng chiểu Bắc Mỹ[3][4][5]. Chúng là:


  • Scheuchzeria palustris subsp. palustris. Miền bắc và đông châu Âu, miền bắc châu Á.

  • Scheuchzeria palustris subsp. americana (Fernald) Hultén. Miền bắc Bắc Mỹ.

Chi này được đặt tên theo nhà tự nhiên học Thụy Sĩ là Johann Jakob Scheuchzer (1672-1733) và em trai ông là Johann Kaspar Scheuchzer[6]. Tên khoa học của loài (palustris) là từ trong tiếng La tinh để chỉ đầm lầy.





Cây phát sinh chủng loài dưới đây lấy theo APG II, với họ Maundiaceae vẫn nằm trong họ Juncaginaceae còn họ Limnocharitaceae vẫn đứng độc lập.



Phân bố và sinh thái học[sửa | sửa mã nguồn]


Scheuchzeria palustris phân bố rộng trong các khu vực ôn đới ấm vừa phải và lạnh của Bắc bán cầu. Tại ranh giới phía nam của sự phân bố, nó chỉ xuất hiện tại một vài nơi cô lập, thường là khu vực miền núi (Pyrénées, Anpơ, Karpat, Bắc Cordillera), nhưng đôi khi cũng xuất hiện ở vùng bình nguyên. Ví dụ, trong khu vực cận kề Kharkiv và Voronezh nó xuất hiện tại đầm lầy rêu than bùn (Sphagnum spp.) hóa thạch sống của các thềm trên đồng cỏ đất cát, trong các Thung lũng triền sông cùng với nhiều loài khác sinh sống ở phương bắc như cói bông (Eriophorum spp.), gọng vó (Drosera spp.), mạn việt quất (Oxycoccus spp.) v.v.


Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]


Minh họa của Jacob Sturm từ sách Deutschlands Flora in Abbildungen, 1796

Cỏ băng chiểu là loài thực vật vùng đầm lầy không lớn (cao tới 20 cm) sống lâu năm với thân rễ dài (tới 0,5 m), thường gốc ghép chia nhánh, đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố lớp phủ rêu than bùn trên các đầm lầy, đặc biệt tại các khu vực sình lầy ven các gò đất cao trên đầm lầy.

Các lá thẳng, rõ nét, phân bố 2 tầng dọc theo thân cây ngắn có thể bị nhầm là lá của loài nào đó trong các họ như cói hay hòa thảo. Ở gốc lá có bẹ hở và tương đối dài, tách khỏi phiến lá bằng phần nhô ra nằm ngang dạng màng — thùy lưỡi, hơi thấp hơn một chút so với đỉnh lá trên mặt trên của nó nổi rõ một hốc gần như thuôn tròn — một lỗ thủy dịch, đóng vai trò của lỗ thoát nước để thoát nước dư thừa. Ở các nách lá là các lông tơ đa bào, tương đồng với các vảy nội bẹ của nhiều loài thực vật một lá mầm sống thủy sinh hay trong vùng đầm lầy. Trong tất cả các cơ quan sinh dưỡng có nhiều mô hô hấp, cho phép các chồi non của cỏ băng chiểu nhô lên khỏi mặt nước.


Quả của cỏ băng chiểu

Ở trạng thải ra hoa cỏ băng chiểu là khó thấy, do cụm hoa dạng chùm của nó với các bông hoa không đẹp mắt chỉ nhô cao hơn một chút trên thảm rêu than bùn.

Cụm hoa của cỏ băng chiểu, kết thúc bằng các chồi sinh sản có lá, thường bao gồm 3-6 (10) hoa lưỡng tính đối xứng tỏa tia, nằm trên các cuống ngắn trong nách của các lá bắc. Bao hoa là 6 lá đài không lớn, đường kính 4–6 mm màu xanh lục hơi vàng hay hơi nâu[3][5][7], phân bố thành 2 vòng, mỗi vòng 3 lá đài. Các nhị cũng có kiểu phân bố tương tự và nằm cao hơn các cánh hoa. Chúng bao gồm các bao phấn tương đối lớn màu nâu đỏ trên các chỉ nhị dài. Trụ (gân) bao phấn kéo dài trên đỉnh thành phần trên gân nhọn đầu. Các hạt phấn hoa không có lỗ. Bộ nhụy là 3, hiếm khi 2 hay 4—6 lá noãn tự do chỉ hơi nhô lên từ đế. Mỗi lá noãn mang 2 (hiếm khi nhiều hơn) phôi hạt ngược và hơi thu hẹp tới đầu nhụy hình đĩa nằm trên đỉnh của nó, được che phủ bằng các núm tương đối dài. Ra hoa trong khoảng tháng 5-6.

Khi mang quả các chồi sinh sản của cỏ băng chiểu trở nên dễ thấy hơn, do chúng mang các quả tương đối to màu lục vàng—nhiều lá noãn, các phần của nó phồng lên và lộ ra các khe hở theo đường khớp của các lá noãn. Ra quả trong giai đoạn tháng 6-7.

Cỏ băng chiểu là loài thụ phấn nhờ gió, trong đó khả năng tự thụ phấn bị giảm đi vì thuần thục sớm hơn của phấn hoa so với nhụy của cùng một hoa. Các hạt hình elip tương đối lớn được phát tán chủ yếu nhờ nước, do chúng có độ nổi cao vì sự có mặt của các mô chứa không khí tại lớp vỏ. Ngoài ra, cỏ băng chiểu cũng nhân giống nhanh nhờ sinh sản sinh dưỡng, do các nhánh thân rễ nhanh chóng đánh mất mối liên hệ với cây mẹ. Sự dịch chuyển các phần không lớn của thảm rêu than bùn cùng với các đoạn thân rễ của cỏ băng chiểu và các loại thực vật đầm lầy khác nhờ nước trong thời gian ngập lụt là có thể.


Ý nghĩa và sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]


Cỏ băng chiểu — một trong các loài thực vật tạo than bùn cơ bản trong các đầm lầy đầu nguồn hay vùng chuyển tiếp.






  • Gubanov I. A, Kiseljova K. V., Novikov V. S., Tikhomirov V. N., Xác định có minh họa thực vật Trung Nga, Moskva, Hiệp hội xuất bản khoa học KMK, Viện Nghiên cứu công nghệ, 2002, quyển 1, tr. 154 (Губанов И. А., Киселёва К. В., Новиков В. С., Тихомиров В. Н. Иллюстрированный определитель растений Средней России. — М.: Т-во научных изданий КМК, Ин-т технологических исследований, 2002. — Т. 1. — С. 154).



Comments

Popular posts from this blog

Nhậm Gia Huyên – Wikipedia tiếng Việt

Selina Ren sinh ngày 31 tháng 10 năm 1981 tại thành phố Đài Bắc, Đài Loan, là một thành viên của nhóm nhạc nữ Đài Loan mang tên S.H.E.




Ngày 8 tháng 8 năm 2000, nhà sản xuất HIM (HIM International Records) tổ chức cuộc thi "Universal 2000 talent and Beauty Girl contest" để chọn ra những nữ ca sĩ mới có thể quảng bá cho thương hiệu của họ. Có hơn 1000 thí sinh đã đăng ký dự thi, và sau những đợt chọn lọc liên tiếp, chỉ còn lại 7 thí sinh tham gia vào phần thi cuối cùng mang tên "The Cruel Stage". Theo như đúng luật thi, trong số 7 người cuối cùng chỉ được phép chọn ra một người thắng cuộc duy nhất. Thế nhưng, ban giám khảo đã chọn cả ba người thắng cuộc là Selina, Hebe và Ella. Với Selina, cô đến với cuộc thi bằng một sự tình cờ khi là người thế chỗ em gái mình vì cô em chưa đủ tuổi dự thi. Selina đã chinh phục ban giám khảo khi trình bày bài hát của nữ ca sĩ nổi tiếng Lý Mân "Before I fall in love". Sau đó, cô đã vượt qua khá dễ dàng các phần thi tiếp theo.


Louis V Joseph de Bourbon-Condé – Wikipedia tiếng Việt

Louis V Joseph de Bourbon-Condé
Hoàng thân Condé
Thông tin chungThê thiếp
Charlotte de Rohan-Soubise, Marie-Catherine de BrignoleHậu duệ
Louis VI Henri de Bourbon-Condé, Louise-Adélaïde de Bourbon-CondéThân phụ
Louis IV Henri de Bourbon-CondéThân mẫu
Caroline von Hessen-Rheinfels-RotenburgSinh
9 tháng 8 năm 1736
ParisMất
13 tháng 5 năm 1818
ChantillyLouis V Joseph de Bourbon-Condé là một quý tộc Pháp, hoàng thân của Condé, prince du sang, sinh 9 tháng 8 năm 1736 tại Paris, mất 13 tháng 5 năm 1818 tại Chantilly


Ông là con duy nhất của Louis Henry I và Landgravine Caroline of Hesse-Rotenburg. Khi còn trẻ ông cưới Charlotte-Godefried de Rohan-Soubise (1737-1760), con gái một người bạn vua Louis XV, Charles de Rohan-Soubise. Hai người có một con trai là Louis Henri Joseph và một con gái là Louise-Adélaide de Condé




Căn cứ không quân MacDill - Wikipedia

Lối vào cổng chính trước khi cập nhật Căn cứ không quân MacDill Michael Moffitt Cơ sở tiếp khách của khách. Dành riêng vào năm 2002 cho Lt Col Michael Moffitt, USAF (Ret) Căn cứ không quân MacDill ( MacDill AFB ) (IATA: MCF ICAO: [19459] FAA LID: MCF ) là một cài đặt Không quân Hoa Kỳ hoạt động nằm 4 dặm (6,4 km) về phía nam-tây nam của trung tâm thành phố Tampa, Florida. "Cánh máy chủ" cho MacDill AFB là Cánh cơ động số 6 (6 AMW), được giao cho Không quân thứ mười tám (18AF) của Bộ Tư lệnh Không quân (AMC). 6 AMW được chỉ huy bởi Đại tá Stephen Snelson. [3] Tổng quan [ chỉnh sửa ] 6 AMW tại MacDill AFB vận hành 16 KC-135R Stratotankers và ba máy bay C-37A cung cấp hỗ trợ nhiệm vụ hàng ngày cho hơn 3.000 nhân viên trong bộ chỉ huy trực tiếp của mình, cùng với hơn 50 đối tác nhiệm vụ bao gồm hơn 12.000 nhân viên, bao gồm Bộ Tư lệnh Trung ương Hoa Kỳ (USCENTCOM), Bộ chỉ huy hoạt động đặc biệt của Hoa Kỳ (USSOCOM) , Bộ Tư lệnh Trung tâm Lực lượng Hàng hải Hoa K…